-->

Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần

Mai Tấn
(TBTCO) - Tuần qua ghi nhận giai đoạn các ngân hàng công bố báo cáo tài chính quý II/2024 với nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục. Bên cạnh đó, thị trường tiền tệ tuần qua ghi nhận xu hướng tăng lãi suất huy động của một số ngân hàng, trong khi đó tỷ giá tăng nhẹ đầu tuần sau đó giảm mạnh vào cuối tuần.
aa

Lợi nhuận có sự phân hóa giữa các ngân hàng

Đến thời điểm hiện tại, hầu hết các ngân hàng trong số các ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính quý II/2024 ghi nhận kết quả KL99 com tặng +199k tăng mạnh. Mới đây, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2024 với lợi nhuận trước thuế đạt 8.159 tỷ đồng, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước. Luỹ kế 6 tháng, lãi trước thuế đạt 15.549 tỷ đồng, tăng 12,1%. Đây là mức lợi nhuận quý kỷ lục từ trước đến nay của ngân hàng này.

Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần
Nhiều ngân hàng ghi nhận kết quả KL99 com tặng +199k tăng mạnh trong quý II/2024. Ảnh: T.L
Theo kết quả khảo sát của Ngân hàng KL99 đăng nhập về lợi nhuận ngân hàng trong cả năm 2024, có 86,2% tổ chức tín dụng dự báo lợi nhuận trước thuế sẽ tăng so với năm 2023 trong khi 10,1% lo ngại sẽ giảm và 3,7% nhận định sẽ không thay đổi.

Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cũng công bố kết quả KL99 com tặng +199k 2 quý đầu năm tăng mạnh. Theo đó, lợi nhuận trước thuế quý II đạt 7.827 tỷ đồng, tăng 38,5% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 6 tháng đạt 15.628 tỷ đồng, tăng trưởng 38,6% so với 6 tháng đầu năm 2023.

Cũng ghi nhận mức lợi nhuận tăng mạnh nhất từ trước cho tới nay, trong quý II/2024, Ngân hàng TPCM Á Châu (ACB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 5.598 tỷ đồng, tăng trưởng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức lợi nhuận cao nhất từ trước đến nay của ACB. Lợi nhuận trước thuế nửa đầu năm đạt 10.491 tỷ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ và thực hiện được khoảng 47,7% kế hoạch năm.

Kết quả khảo sát của Ngân hàng KL99 đăng nhập (NHNN) cho thấy, 72,7% tổ chức tín dụng cho rằng, tình hình KL99 com tặng +199k sẽ khởi sắc hơn trong quý II và suốt cả năm 2024. Về lợi nhuận trước thuế quý II, có 57,3% tổ chức tín dụng kỳ vọng sẽ có sự tăng trưởng so với quý I/2024, 30,9% dự báo giữ nguyên và 11,8% lo ngại sẽ giảm.

KL99 com tặng +199k miếng SJC tiếp tục tăng

Sau đợt tăng mạnh giá bán vàng miếng SJC trong ngày 18/7, Ngân hàng KL99 đăng nhập liên tiếp điều chỉnh giá bán vàng miếng trong ngày 30/7 và 1/8. Cụ thể, trong ngày 30/7, căn cứ phương án bán vàng miếng SJC trực tiếp cho 4 ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay nhà nước và Công ty TNHH MTV vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đã được Thống đốc Ngân hàng KL99 đăng nhập phê duyệt, giá bán vàng miếng trực tiếp của Ngân hàng KL99 đăng nhập là 78 triệu đồng/lượng, giảm 500.000 đồng/lượng. Sau đó, trong ngày 1/8 giá bán vàng miếng trực tiếp của Ngân hàng KL99 đăng nhập là 78,8 triệu đồng/lượng, tăng 800.000 đồng/lượng.

Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần
Ngân hàng nhà nước có 2 lần công bố điều chỉnh giá vàng trong tuần. Ảnh: T.L

Việc Ngân hàng KL99 đăng nhập bán vàng trực tiếp cho 4 ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay nhà nước và Công ty SJC được triển khai từ ngày 3/6, sau khi biện pháp đấu thầu vàng miếng SJC không đem lại hiệu quả như mong đợi. Ngân hàng KL99 đăng nhập cho biết sẽ tiếp tục thực hiện lộ trình thu hẹp và kiểm soát chênh lệch giữa giá bán vàng miếng SJC trong nước và giá thế giới ở mức phù hợp.

Tại buổi họp báo quý II/2024 của Ngân hàng KL99 đăng nhập diễn ra cách đây ít ngày, Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng KL99 đăng nhập Đào Minh Tú cho biết, cơ chế bán vàng trực tiếp đã bước đầu phát huy hiệu quả, kiểm soát được giá vàng SJC đối với giá vàng thế giới, không để tạo ra chênh lệch quá lớn. Tuy nhiên, đây cũng là những chính sách trước mắt, còn lâu dài làm sao để căn cơ, phù hợp là vấn đề khó. Ngân hàng KL99 đăng nhập khẳng định, thời gian tới sẽ tiếp tục thực hiện lộ trình thu hẹp và kiểm soát chênh lệch giữa giá bán vàng miếng SJC trong nước và giá thế giới ở mức phù hợp. Theo Phó thống đốc Đào Minh Tú, Ngân hàng KL99 đăng nhập cùng các bộ, ngành chức năng đã và đang nghiên cứu để xây dựng chính sách hợp lý đối với quản lý thị trường vàng thời gian tới.

Ngày càng nhiều ngân hàng tăng lãi suất tiết kiệm

Bước sang tháng 8, nhiều ngân hàng vẫn tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Mức cao nhất lên hơn 6%/năm nhằm hút dòng tiền nhàn rỗi trong dân, nhất là khi các kênh đầu tư khác chưa hồi phục rõ nét. Ngày 1/8, ngân hàng Agribank điều chỉnh tăng lãi suất kỳ hạn 1-2 tháng tăng thêm 0,2%/năm, lên mức 1,8%/năm. Kl 99 vòng chung kết huy động kỳ hạn 3-5 tháng đồng loạt tăng thêm 0,3%/năm, lên mức 2,2%/năm.

Trong khi đó, các kỳ hạn từ 6-9 tháng có lãi suất mới là 3,2%/năm sau khi tăng thêm 0,2%/năm. Như vậy, 3 trong số 4 ngân hàng thuộc nhóm ngân hàng quốc doanh đã tăng lãi suất huy động kể từ tháng 4.

Cùng ngày, ngân hàng HDBank đã tăng lãi suất huy động đối với các kỳ hạn ngắn. Cụ thể, lãi suất huy động trực tuyến kỳ hạn 1-5 tháng đồng loạt được niêm yết tại mức 3,55%/năm sau khi tăng 0,3%/năm. HDBank tăng thêm 0,2%/năm lãi suất đối với tiền gửi kỳ hạn 6 tháng, lên mức 5,1%/năm. Đây là lần đầu tiên sau nhiều tháng, lãi suất huy động kỳ hạn này vượt ngưỡng 4,9%/năm.

Trong hai tuần trở lại đây, 16 ngân hàng tăng biểu lãi suất từ 0,1% đến 1,3%, gồm MB, VIB, VPBank, Sacombank, ABBank, BVBank, BacABank... Trong đó, ABBank là đơn vị tăng mạnh nhất, với mức điều chỉnh từ 0,6% đến 1,3% cho các khoản tiền gửi trực tuyến kỳ hạn từ 3 tháng trở lên. Gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng tại nhà băng này lãi suất 6,2%, mức cao nhất hệ thống. Tại các ngân hàng khác, lãi suất từ 6% trở lên chỉ xuất hiện nếu khách hàng gửi tiền ở các kỳ hạn dài 15-24 tháng, như ở SeABank, Oceanbank, NCB, BVBank.

Các chuyên gia cho rằng, bước sang quý III, cầu tín dụng bắt đầu phục hồi đòi hỏi các ngân hàng phải tính đến việc huy động thêm vốn để chuẩn bị phục vụ nhu cầu tín dụng trong thời gian tới, nhất là khi room tín dụng 15% đã được Ngân hàng KL99 đăng nhập giao ngay từ đầu năm.

Tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần

Tuần qua, tỷ giá đã có diễn biến tăng nhẹ vào đầu tuần nhưng sau đó điều chỉnh giảm mạnh vào cuối tuần. Tỷ giá trung tâm mở đầu tuần hôm 29/7 ở mức 24.261 đồng/USD, tăng nhẹ 3 đồng/USD so với phiên cuối tuần trước. Trong các ngày tiếp theo, tỷ giá trung tâm tiếp tục được NHNN điều chỉnh nhích tăng và ghi nhận ở mức 24.257 đồng/USD vào ngày 30/7. Tuy nhiên, tỷ giá trung tâm giảm mạnh hôm thứ sáu ngày 2/8 về mức 24.245 đồng/USD, giảm 10 đồng/USD so với hôm trước đó và giảm 4 đồng/USD so với cuối tuần trước.

Tại ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm đầu tuần là 25.461 đồng/USD, giữ ổn định so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, những ngày tiếp theo ngân hàng này đã điều chỉnh giảm mạnh tỷ giá về 24.420 đồng/USD vào hôm thứ Năm và tiếp tục điều chỉnh giảm về mức 24.400 đồng/USD vào hôm thứ Sáu cuối tuần. Chốt tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank giảm 61 đồng/USD so với đầu tuần.

Chỉ số DXY biến động trong biên độ hẹp

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY biến động trong biên độ hẹp và không thể hiện xu hướng rõ ràng. Tại thời điểm chiều ngày 2/8 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 104,24 điểm, giảm nhẹ so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người Link Vào Nhà Cái KL99 COM Tặng +199k và Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng KL99 đăng nhập Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung sẽ giúp Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

(TBTCO) - Sau khi chồng qua đời vì ung thư chỉ hơn 8 tháng kể từ ngày tham gia bảo hiểm "Bảo an tín dụng" của ABIC, bà Nguyễn Thị Ngọc Thiêu đã khởi kiện, yêu cầu Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng. Liên quan đến vụ tranh chấp này, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Bản án số 507/2026/DS-PT và đưa ra phán quyết đối với yêu cầu của các bên.
Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

(TBTCO) - Tạp chí Fortune (Hoa Kỳ) vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 (500 Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lớn nhất Đông Nam Á) năm 2026. Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong bảng xếp hạng này.
KL99 com tặng +199k hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

KL99 com tặng +199k hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - KL99 com tặng +199k trong nước đồng loạt tăng tại nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 KL99 com tặng +199k vàng lớn. Vàng miếng phổ biến ở mức 149 - 151,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn có nơi được niêm yết tới 152 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,880 15,130
Kim TT/AVPL 14,900 15,150
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,900 15,150
Nguyên Liệu 99.99 13,950 ▼200K 14,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,900 ▼200K 14,100 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 15,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 15,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 14,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,830 ▼50K 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,830 ▼50K 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,830 ▼50K 15,130
NL 99.90 13,750 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,800 ▼100K
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 18/06/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17925 18199 18775
CAD 18105 18380 18996
CHF 32144 32526 33177
CNY 0 3848 3940
EUR 29584 29806 30881
GBP 34051 34441 35372
HKD 0 3227 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14867 15457
SGD 19860 20142 20718
THB 719 782 835
USD (1,2) 26055 0 0
USD (5,10,20) 26096 0 0
USD (50,100) 26125 26139 26431
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,431
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,845 29,869 31,222
JPY 159.52 159.81 169.05
GBP 34,469 34,562 35,672
AUD 18,199 18,265 18,908
CAD 18,330 18,389 19,021
CHF 32,583 32,684 33,560
SGD 20,041 20,103 20,844
CNY - 3,821 3,958
HKD 3,294 3,304 3,434
KRW 15.9 16.58 18
THB 769.42 778.92 831.73
NZD 14,933 15,072 15,478
SEK - 2,731 2,821
DKK - 3,993 4,124
NOK - 2,696 2,785
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,011.37 - 6,771.77
TWD 753.5 - 910.67
SAR - 6,900.43 7,250.85
KWD - 83,423 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,431
EUR 29,736 29,855 31,040
GBP 34,390 34,528 35,542
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,377 32,507 33,416
JPY 159.56 160.20 167.98
AUD 18,137 18,210 18,801
SGD 20,076 20,157 20,739
THB 785 788 823
CAD 18,322 18,396 18,954
NZD 14,962 15,496
KRW 16.55 18.15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26125 26125 26431
AUD 18109 18209 19134
CAD 18285 18385 19399
CHF 32390 32420 34002
CNY 3829.1 3854.1 3989.8
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29770 29800 31525
GBP 34359 34409 36167
HKD 0 3355 0
JPY 160.31 160.81 171.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14985 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20021 20151 20879
THB 0 748.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15500000
SBJ 13500000 13500000 15500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,431
USD20 26,151 26,201 26,431
USD1 23,915 26,201 26,431
AUD 18,201 18,301 19,408
EUR 30,019 30,019 31,578
CAD 18,270 18,370 19,673
SGD 20,137 20,287 20,852
JPY 160.8 162.3 166.84
GBP 34,431 34,781 35,653
XAU 14,878,000 0 15,132,000
CNY 0 3,744 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/06/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80