Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Ánh Tuyết
Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
aa
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng “đi ngược” Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao “0 đồng” thành “nam châm” hút vốn Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Cạnh tranh huy động vốn ngày càng nóng

Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư Công ty cổ phần Kl99com link không chặn SSI (SSI Research) vừa có báo cáo đánh giá về kết quả KL99 com tặng +199k quý I/2026 ngành ngân hàng.

Các ngân hàng trong phạm vi theo dõi của SSI Research ghi nhận kết quả KL99 com tặng +199k quý I/2026 tích cực, với lợi nhuận trước thuế đạt 79,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng khoảng 10% trong dự báo trước đó.

Kết quả vượt trội chủ yếu đến từ VietinBank, TechcombankMB nhờ giảm trích lập dự phòng, Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất ngoài lãi tăng mạnh. Các ngân hàng còn lại nhìn chung ghi nhận kết quả phù hợp với kỳ vọng.

Tăng trưởng lợi nhuận tiếp tục được dẫn dắt bởi tín dụng, với dư nợ cho vay tăng 20% so với cùng kỳ, giúp Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất lãi thuần tăng 18%. Thu nhập phí phục hồi cùng với việc kiểm soát chi phí hoạt động tăng 10% tiếp tục hỗ trợ lợi nhuận quý I/2026.

Theo SSI Research, bức tranh huy động kém tích cực phản ánh các yếu tố mang tính cấu trúc và dòng tiền luân chuyển theo mùa vụ, bao gồm xu hướng tăng nắm giữ tiền mặt trước những thay đổi quy định gần đây, vòng quay tiền chậm lại sau giai đoạn giải ngân mạnh vào bất động sản các năm trước và tiền gửi Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 thường giảm vào đầu năm.

Đáng chú ý, nguồn vốn trở thành điểm nóng trong quý I/2026. “Tính đến cuối quý IV/2025, tỷ lệ LDR của các ngân hàng trong phạm vi theo dõi đã tiệm cận 100%, trong khi thanh khoản ngày càng phụ thuộc vào tiền gửi Kho bạc KL99 đăng nhập, kênh OMO (thị trường mở) và một số nguồn vốn nước ngoài, thay vì tăng trưởng tiền gửi cốt lõi” - SSI Research nhấn mạnh.

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Điều này dẫn tới cạnh tranh huy động ngày càng gay gắt trong quý I/2026. Mặc dù tổng tiền gửi khách hàng toàn hệ thống chỉ tăng 0,2% từ đầu năm, sự phân hóa diễn ra khá rõ. Nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay nhà nước giảm 0,7%, trong khi nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay cổ phần tăng 1,3%, phản ánh dòng tiền gửi dịch chuyển từ các ngân hàng có lãi suất thấp sang các ngân hàng trả lãi suất cao hơn.

VPBankHDBank là những ngân hàng dẫn dắt chu kỳ điều chỉnh lãi suất, qua đó, sớm thu hút được tiền gửi khách hàng. Mặt bằng lãi suất có thời điểm lên vùng 9 - 9,5%, tăng khoảng 120 - 150 điểm cơ bản.

Trước bối cảnh đó, các ngân hàng gia tăng sử dụng nguồn vốn thay thế như: chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và vốn nước ngoài, với lượng phát hành đáng chú ý tại BIDV tăng 78 nghìn tỷ đồng, ACB tăng 23 nghìn tỷ đồng và MB tăng 22 nghìn tỷ đồng.

Cạnh tranh lãi suất gay gắt, NIM co hẹp còn 3,04%

SSI Research đánh giá, tăng trưởng tiền gửi có thể phục hồi trong quý II/2026 nhờ lãi suất huy động vẫn neo ở mức tương đối cao, yếu tố mùa vụ liên quan đến tiền gửi khách hàng Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 quay trở lại bình thường và những điều chỉnh gần đây về chính sách thuế đối với hộ KL99 com tặng +199k.

Trong khi đó, huy động vốn nước ngoài nếu sớm được triển khai thành công sẽ góp phần cải thiện dần tình hình huy động.

Bên cạnh đó, nhu cầu tín dụng có thể chậm lại trong bối cảnh lãi suất cho vay ở mức hai chữ số, qua đó, phần nào giảm áp lực thanh khoản và giúp điều kiện thanh khoản dần ổn định từ mức căng thẳng hiện tại.

“Tuy nhiên, điều kiện nguồn vốn vẫn rất nhạy cảm với các thay đổi quy định sắp tới. Đặc biệt, việc áp dụng các thước đo thanh khoản mới như CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn) - nếu được triển khai ngay lập tức và không có giai đoạn chuyển tiếp hoặc lộ trình áp dụng theo từng bước - có thể khiến áp lực huy động gia tăng trở lại” - nhóm phân tích nêu quan điểm.

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt
SSI Research cho biết, mặc dù lợi suất Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp tăng nhẹ 9 điểm cơ bản so với quý trước, mức tăng này không đủ bù đắp cho chi phí vốn tăng mạnh 31 điểm cơ bản trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất gay gắt, cho thấy giới hạn của việc mở rộng bảng cân đối kế toán trong việc bù đắp áp lực chi phí. Do đó, NIM toàn hệ thống giảm 20 điểm cơ bản so với quý trước và giảm 11 điểm cơ bản so với cùng kỳ, xuống còn 3,04%.

Tăng trưởng tín dụng đạt 3,7% từ đầu năm, tương đương tăng 20% so với cùng kỳ, so với mức tăng 3,4% và 19% của quý I/2025, chủ yếu được dẫn dắt bởi các ngân hàng còn dư địa hạn mức nhờ tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếu kém.

Tuy nhiên, trong nhóm này, chỉ VPBank tăng 10,3%, HDBank tăng 8% và Vietcombank tăng 4,8% nhờ lợi thế về nguồn vốn huy động.

SSI Research nhấn mạnh, điều này cho thấy, dù hạn mức tín dụng vẫn là điều kiện cần, khả năng huy động vốn đã trở thành yếu tố phân hóa then chốt trong bối cảnh LDR toàn hệ thống đã vượt 100%.

Phần lớn các ngân hàng còn lại chỉ ghi nhận tăng trưởng khoảng 2,5 - 3,5% từ đầu năm, trong khi VietinBank tăng 1,8% và Sacombank tăng 0,1%, thấp hơn mặt bằng chung.

Cũng theo quan sát của SSI Research, NIM giảm trở lại sau nhịp phục hồi trong quý IV/2025, với mức độ phân hóa nhìn chung phù hợp kỳ vọng. Cụ thể, NIM cải thiện tại nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay nhà nước, nhưng tiếp tục chịu áp lực tại nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay cổ phần do chi phí huy động tăng, trong đó BIDV là ngoại lệ đáng chú ý trong nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay nhà nước.

Vietcombank và VietinBank nổi bật với NIM tăng 14 điểm cơ bản so với quý trước nhờ cơ cấu nguồn vốn vững mạnh hơn. Ngược lại, BIDV giảm 36 điểm cơ bản do lợi suất Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp sụt giảm mạnh, có thể phản ánh khác biệt về thời điểm ghi nhận và cần được theo dõi sát hơn.

Sacombank là trường hợp đặc biệt khi NIM phục hồi 34 điểm cơ bản so với quý trước, chủ yếu nhờ mức nền rất thấp trong quý IV/2025 do các yếu tố liên quan đến chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp./.

Kiểm soát NIM trở thành thách thức chính

Với tỷ lệ LDR và lãi suất huy động vẫn ở mức cao, SSI Research đánh giá, NIM dự kiến tiếp tục chịu áp lực, khiến việc kiểm soát NIM trở thành thách thức chính trong các quý tới. Các hạn chế về nguồn vốn và áp lực thu hẹp biên lợi nhuận dự kiến sẽ tiếp diễn trong ngắn hạn. Rủi ro chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp được dự báo dần rõ nét hơn trong môi trường lãi suất cao.

Bên cạnh đó, các thay đổi quy định sắp tới có thể ảnh hưởng đến điều kiện thanh khoản và làm tăng chi phí nếu thiếu lộ trình chuyển tiếp phù hợp. Trong bối cảnh này, SSI Research cho rằng, mức độ phân hóa về hiệu quả hoạt động giữa các ngân hàng sẽ tiếp tục gia tăng. Những ngân hàng có cơ cấu nguồn vốn ổn định, bộ đệm vốn mạnh và quản trị rủi ro tốt sẽ ở vị thế thuận lợi hơn để vượt qua thách thức.

Các cổ phiếu ưa thích vẫn là Vietcombank, VietinBank và MB. Trong đó, MB cần tiếp tục cải thiện mức độ đa dạng hóa nguồn vốn và phục hồi nền tảng tiền gửi nhằm củng cố luận điểm đầu tư./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80