Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Tú Anh
(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng KL99 đăng nhập, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
aa

Chỉ một ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất, mặt bằng vẫn neo cao

Sau cuộc họp đầu tiên với Thống đốc Ngân hàng KL99 đăng nhập chiều ngày 9/4, “làn sóng” giảm lãi suất từng lan nhanh khắp hệ thống ngân hàng, mạnh nhất ở các kỳ hạn 6 tháng và 24 tháng. Tuy nhiên, chỉ sau vài tuần, thị trường gần như rơi vào trạng thái “lặng sóng”, khi phần lớn nhà băng đồng loạt đứng yên sau nhịp giảm mạnh ban đầu.

Theo khảo sát của phóng viên từ gần 50 ngân hàng, từ đầu tháng 5/2026 đến nay, Saigonbank là ngân hàng duy nhất tiếp tục hạ lãi suất huy động, trong đó kỳ hạn 24 tháng giảm thêm 0,5 điểm phần trăm, nâng tổng mức giảm lên tới 1 điểm phần trăm sau 2 lần giảm.

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu
Nguồn: FiinGroup, SHS Research. Đồ họa tư liệu

Dù vậy, diễn biến tại ngân hàng này cũng cho thấy sự giằng co rõ nét trong bài toán huy động vốn. Trái ngược xu hướng giảm ở nhiều kỳ hạn, lãi suất tiết kiệm trực tuyến kỳ hạn 13 tháng lại được Saigonbank đẩy vọt từ 7% lên 7,9%/năm, cao nhất trong biểu lãi suất niêm yết của ngân hàng này.

Cũng theo quan sát của nhóm phân tích Công ty TNHH Kl99com link không chặn Yuanta Việt Nam, lãi suất huy động đã chững lại đà giảm sau 3 tuần điều chỉnh, khi tuần cuối tháng 4 không còn ghi nhận ngân hàng nào giảm lãi suất, thậm chí vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất vài kỳ hạn.

Chỉ rõ biến động mặt bằng lãi suất trước và sau hiệu lệnh của nhà điều hành, Công ty cổ phần Kl99com link không chặn MB (MBS) nhận thấy, trung bình lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay quy mô lớn đến cuối tháng 4 ở mức 8,16%/năm, giảm 25 điểm cơ bản so với thời điểm trước chỉ đạo của Ngân hàng KL99 đăng nhập. Trong khi đó, nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay quy mô vừa và nhỏ có lãi suất bình quân 8,45%/năm, giảm mạnh 29 điểm cơ bản.

Kl 99 vòng chung kết cho vay giảm nhẹ sau nhịp hạ lãi suất huy động

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, hiện lãi suất bình quân của các khoản huy động mới phát sinh ở mức khoảng 5,7%/năm, giảm khoảng 0,26 điểm phần trăm so với cuối tháng 3/2026. Trong khi đó, dù mới diễn ra trong thời gian ngắn, lãi suất cho vay bình quân cũng đã bắt đầu có xu hướng giảm nhẹ. Nếu xu hướng giảm của lãi suất huy động lan tỏa vào cơ cấu nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, trên nền tảng đó, lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng được kỳ vọng sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới.

“Theo đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay đến cuối kỳ ở mức 8,31%, tăng 2,53 điểm phần trăm so với đầu năm. Dù các ngân hàng đã đều đồng loạt thực hiện giảm lãi suất trong tháng 4, song hiện lãi suất huy động vẫn neo ở mức cao do mặt bằng lãi suất tăng tương đối nhiều quý I/2026” - MBS đánh giá.

Nhận thấy rõ sự thay đổi của lãi suất cho vay có tác động rất quan trọng đến hoạt động của Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 và cả nền kinh tế, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, thời gian qua, Ngân hàng KL99 đăng nhập triển khai nhiều giải pháp điều hành đồng bộ và quyết liệt, với mục tiêu quan trọng nhất là giảm lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 và người dân.

Theo ông Quang, sau cuộc họp, gần như toàn bộ 46 ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay, ngoại trừ một vài trường hợp đặc thù, đã đồng thuận giảm lãi suất huy động kỳ hạn 6 - 12 tháng với mức giảm từ 0,1 - 1%/năm, qua đó, góp phần ổn định mặt bằng lãi suất thị trường.

Đà giảm lãi suất chậm lại giữa áp lực lạm phát và tín dụng tăng tốc

Tuy nhiên, dư địa giảm lãi suất trong thời gian tới vẫn chịu nhiều sức ép từ cả yếu tố bên ngoài lẫn trong nước.

Theo nhận định của ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng KL99 đăng nhập), trên thế giới, nhiều ngân hàng trung ương lớn duy trì quan điểm thận trọng trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ, thậm chí có khả năng tiếp tục duy trì trạng thái thắt chặt để kiểm soát lạm phát. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ được dự báo nhiều khả năng giữ nguyên lãi suất điều hành 3,5 - 3,75%/năm tới hết năm 2026 và chưa để ngỏ khả năng sẽ điều chỉnh trong năm 2027.

Cũng theo ông Lân, áp lực lạm phát toàn cầu cũng có xu hướng gia tăng trở lại khi Kl99ok Cá Cược Bóng Đá tăng mạnh do xung đột tại Trung Đông. Trong nước, lạm phát năm 2026 được đánh giá chịu sức ép lớn từ diễn biến địa chính trị và giá năng lượng. Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2026 có thể lên 4,9%, vượt mục tiêu 4,5%. Cùng với đó, tỷ giá cũng chịu thêm áp lực trong bối cảnh cán cân KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay chuyển sang nhập siêu.

Trong bối cảnh đó, chuyên gia Kl99com link không chặn Yuanta cho rằng, đà giảm lãi suất huy động khó có thể kéo dài và mặt bằng lãi suất hiện tại có thể được duy trì ít nhất trong suốt quý II/2026, nhất là khi tăng trưởng tín dụng nhanh hơn trong tháng 4.

Số liệu của Ngân hàng KL99 đăng nhập cho thấy, tính đến ngày 28/4/2026, tín dụng tăng 4,42% so với đầu năm và tăng 18,26% so với cùng kỳ, đạt 19,42 triệu tỷ đồng.

Dù tín dụng được định hướng tăng khoảng 15% năm nay, để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên, Ngân hàng KL99 đăng nhập nhận định, huy động vốn từ nền kinh tế nhiều khả năng khó đạt được mức tăng bằng hoặc cao hơn tăng trưởng tín dụng, khiến vấn đề thanh khoản nói chung, thanh khoản VND nói riêng vẫn là vấn đề cần phải lưu tâm trong thời gian tới.

Thanh khoản vẫn là bài toán lớn, thử thách hơn trước chuẩn Basel III

Kl 99 vòng chung kết cho vay bắt đầu giảm nhẹ, nhưng áp lực thanh khoản chưa hạ nhiệt. Theo Công ty cổ phần Kl99com link không chặn Sài Gòn - Hà Nội (SHS), mức điều chỉnh nhìn chung vẫn tương đối khiêm tốn và chưa đủ tạo ra thay đổi rõ nét đối với mặt bằng chi phí vốn, đặc biệt tại nhóm ngân hàng cần duy trì thanh khoản ổn định và bảo đảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Trên thực tế, áp lực huy động vẫn hiện hữu ở một số thời điểm, thể hiện qua việc các ngân hàng tiếp tục sử dụng thêm các công cụ linh hoạt để củng cố nguồn vốn trung và dài hạn. Điển hình, chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 12 tháng vẫn được chào ở nền lãi suất cao, quanh vùng 8%/năm cho kỳ hạn 1 năm.

Đáng chú ý, Ngân hàng KL99 đăng nhập đã công bố dự thảo Thông tư mới thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, phát đi tín hiệu siết chặt hơn các chuẩn mực an toàn hệ thống theo định hướng tiệm cận Basel III. Dự thảo tập trung nâng yêu cầu đối với các tỷ lệ an toàn vốn và thanh khoản, đồng thời giảm dần dư địa “xử lý kỹ thuật” mà một số ngân hàng có thể tận dụng trong cách tính các chỉ tiêu hiện hành.

Theo nhóm phân tích SHS, tỷ lệ CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn) được đề xuất thay thế tỷ lệ LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi), với cách tiếp cận khắt khe hơn khi loại bỏ phần vốn từ thị trường 2 ra khỏi mẫu số. Đồng thời, dự thảo bổ sung và nhấn mạnh vai trò của các chuẩn thanh khoản quan trọng như: LCR (tỷ lệ khả năng chi trả), NSFR (tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng). Trong đó, NSFR được xem là bước chuyển từ tư duy “cơ cấu nguồn vốn” sang tư duy “hành vi dòng tiền”.

Ngoài ra, tỷ lệ đòn bẩy LEV cũng được đề cập như một tiêu chuẩn bổ sung, dù tác động thực tế được đánh giá không quá lớn. “Dự thảo này được xem như một tín hiệu cho thấy định hướng quản lý sẽ ưu tiên việc thúc đẩy hệ thống tiến gần hơn đến Basel III, qua đó tạo ra sự phân hóa rõ hơn giữa các nhóm ngân hàng về năng lực quản trị thanh khoản và tiêu chuẩn hóa hệ thống” - nhóm phân tích SHS nhận định.

Tú Anh

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80