Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
aa
Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp
Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm Sau 3 tháng “án binh”, nhóm “big 4” đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

BIDV giữ ngôi đầu, nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng tăng tốc hút vốn

Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính quý I/2026, riêng ABBank mới công bố số liệu riêng lẻ, cho thấy tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt khoảng 12.881.371,7 tỷ đồng, chỉ tăng nhẹ 0,6% so với cuối quý IV/2025. Đây là mức tăng khá khiêm tốn trong bối cảnh quý đầu năm thường là giai đoạn dòng tiền rút mạnh khỏi ngân hàng để phục vụ chi tiêu, thanh toán cuối năm và dịp Tết.

Trong khi đó, nếu so với cuối quý III/2025 - thời điểm các ngân hàng bắt đầu bước vào cuộc đua tăng mạnh lãi suất huy động trên toàn hệ thống - tổng tiền gửi khách hàng đã tăng khoảng 5%, cho thấy mặt bằng lãi suất cao hơn phần nào phát huy tác động trong việc hút dòng vốn quay trở lại ngân hàng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

HDBank, ABBank, VPBank và MB là các ngân hàng có tốc độ tăng tiền gửi mạnh nhất hệ thống so với cuối quý III/2025. Đáng chú ý, HDBank, VPBank và MB đều nằm trong nhóm ngân hàng được kỳ vọng đẩy mạnh tín dụng, nhờ nhận chuyển giao ngân hàng 0 đồng. Điều này cũng khiến nhu cầu tăng trưởng huy động vốn trở nên cấp thiết, nhằm đảm bảo nguồn vốn cho vay và duy trì các tỷ lệ an toàn hoạt động.

Trong nhóm ngân hàng có quy mô tiền gửi lớn nhất hệ thống, BIDV tiếp tục dẫn đầu với tiền gửi khách hàng đạt hơn 2,1 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026, giảm 3,7% so với cuối năm 2025, nhưng vẫn tăng 2,6% so với cuối quý III/2025.

VietinBank đứng thứ hai nhóm khảo sát, với quy mô tiền gửi khách hàng đạt hơn 1,82 triệu tỷ đồng, tăng 1,7% so với cuối quý IV/2025 và tăng 2,7% so với cuối quý III/2025.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietcombank xếp thứ ba với tiền gửi khách hàng đạt khoảng 1,68 triệu tỷ đồng, tăng nhẹ 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng 4,3% so với cuối quý III/2025.

Ở khối ngân hàng tư nhân, MB dẫn đầu và đứng thứ 4 toàn hệ thống, với quy mô huy động đạt khoảng 906 nghìn tỷ đồng. Dù giảm 1,7% so với cuối quý IV/2025 do yếu tố mùa vụ đầu năm, tiền gửi khách hàng của MB vẫn tăng mạnh 15% so với cuối quý III/2025.

Đáng chú ý, VPBank và HDBank là hai ngân hàng có tốc độ tăng trưởng huy động nổi bật nhất hệ thống trong quý I/2026. Cụ thể, tiền gửi khách hàng tại VPBank đạt 682.719,4 tỷ đồng, tăng 8,7% so với cuối năm 2025 và tăng 16,5% so với cuối quý III/2025.

Trong khi đó, HDBank đạt 621.548,9 tỷ đồng, tăng 10,8% so với quý IV/2025 và tăng mạnh tới 27,4% so với cuối quý III/2025, cho thấy khả năng hút dòng tiền rất mạnh trong giai đoạn lãi suất huy động tăng cao. HDBank cũng là ngân hàng có tốc độ tăng tiền gửi mạnh nhất hệ thống.

Sau cuộc đua lãi suất, nhiều ngân hàng vẫn chật vật giữ dòng tiền

Dù nhiều ngân hàng bắt đầu tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III/2025 để hút dòng tiền, tiền gửi khách hàng trong quý I/2026 vẫn ghi nhận xu hướng giảm tại nhiều nhà băng, chủ yếu dòng tiền rút ra mạnh để phục vụ thanh toán lương thưởng, chi tiêu Tết, thanh toán công nợ và nhu cầu vốn lưu động của Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.

Trong nhóm khảo sát, VietBank ghi nhận mức giảm mạnh nhất khi tiền gửi khách hàng cuối quý I/2026 còn 96.521,5 tỷ đồng, giảm 4,9% so với cuối quý IV/2025. TPBank giảm 4,3% xuống 267.038,2 tỷ đồng; Saigonbank giảm 3,7% còn 25.348,7 tỷ đồng; BIDV giảm 3,7% xuống hơn 2,1 triệu tỷ đồng...

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng quý I/2026, nhóm nhận chuyển giao 0 đồng thành nam châm hút vốn
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng quý I/2026, nhóm nhận chuyển giao 0 đồng thành “nam châm” hút vốn. Ảnh minh họa.

Bên cạnh đó, dù nhiều ngân hàng đã bước vào cuộc đua tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III/2025, một số nhà băng vẫn ghi nhận tiền gửi khách hàng sụt giảm trong quý I/2026, cho thấy áp lực cạnh tranh dòng tiền vẫn khá lớn.

Trong nhóm khảo sát, NamABank là ngân hàng giảm mạnh nhất khi tiền gửi khách hàng cuối quý I/2026 còn 176.865,4 tỷ đồng, giảm 8,7% so với cuối quý III/2025. Sacombank cũng giảm 6,3%, xuống còn 600.789 tỷ đồng.

Một số ngân hàng khác ghi nhận huy động “đi lùi” như: VietBank giảm 4,3% xuống 96.521,5 tỷ đồng; Saigonbank giảm 2,3% còn 25.348,7 tỷ đồng; BacABank giảm 2,3% còn 127.458,1 tỷ đồng. Trong khi đó, ACB gần như đi ngang 569.109,6 tỷ đồng.

Diễn biến này cho thấy việc tăng lãi suất huy động chưa thể ngay lập tức giúp tất cả ngân hàng cải thiện quy mô tiền gửi, trong bối cảnh dòng tiền của người dân và Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 vẫn phân bổ sang các kênh đầu tư khác; đồng thời, cạnh tranh huy động ngày càng gay gắt khi nhiều ngân hàng lớn cũng đồng loạt nâng mạnh lãi suất để hút vốn.

Nhìn lại mặt bằng lãi suất huy động niêm yết trong tháng 3/2026 cho thấy cuộc đua hút tiền gửi giữa các ngân hàng tư nhân lớn diễn ra khá quyết liệt. Ở nhóm kỳ hạn ngắn 1 - 6 tháng, VPBank nổi bật nhất, đặc biệt tại kỳ hạn 6 tháng là kỳ hạn được nhiều người dân lựa chọn gửi tiết kiệm, lãi suất tiền gửi lên tới 6,4%/năm.

Tại kỳ hạn 12 tháng, VPBank và MB “so kè” khi cùng niêm yết mức 6,5%/năm. Trong khi đó, ở kỳ hạn dài 24 tháng, MB cho thấy lợi thế rõ rệt với mức lãi suất tới 7,5%/năm, cao hơn đáng kể so với mức 6,2%/năm của VPBank, phản ánh chiến lược ưu tiên hút dòng tiền trung và dài hạn của ngân hàng này.

“VPBank là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất trong 3 tháng đầu năm 10,2% trong khi tổng thị trường chỉ tăng khoảng 2,1% và huy động cũng đã tăng hơn 10%, đặc biệt, riêng ngân hàng mẹ mức tăng huy động tới 11,3%. Những các yếu tố này cho thấy VPBank đang ở trong “guồng quay” tăng trưởng rất cao” - lãnh đạo VPBank nhìn nhận.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua, Tổng Giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh cho biết, năm 2025, VPBank là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng huy động rất mạnh, khoảng 35 - 36%, trong đó huy động được khoảng 2,36 tỷ USD từ thị trường quốc tế.

Sang năm 2026, ngân hàng tiếp tục đặt mục tiêu tăng huy động thêm khoảng 40%, đồng thời dự kiến huy động khoảng 2,5 tỷ USD vốn trung dài hạn quốc tế nhằm đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng.

Theo ông Vinh, quy mô huy động dự kiến tăng thêm hơn 300.000 tỷ đồng mỗi năm, tương đương quy mô của một ngân hàng cỡ trung bình, nên đây không phải nhiệm vụ dễ dàng với bất kỳ ngân hàng nào.

Năm 2026, MB cũng đặt mục tiêu tăng trưởng dư nợ và huy động vốn khoảng 35%, thuộc nhóm cao nhất thị trường. Lãnh đạo MB chia sẻ tại Hội nghị nhà đầu tư rằng, để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng cao, ngân hàng sẽ phải cân đối nguồn huy động phù hợp với tốc độ mở rộng cho vay. Theo đó, chi phí vốn (COF) của MB năm 2026 dự kiến tăng khoảng 0,15 - 0,2 điểm phần trăm so với năm 2025.

Nói về làn sóng tăng lãi suất huy động thời gian qua, lãnh đạo VPBank cho rằng, lãi suất huy động trên thị trường đã tăng cao nhất trong vòng 3 năm gần đây. Điều này cũng xuất phát từ bối cảnh chung của toàn ngành ngân hàng.

Theo lãnh đạo VPBank, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trong quý I/2026 vừa qua khoảng 3 - 3,5%, huy động tăng thấp hơn; trong khi VPBank có tốc độ tăng trưởng cao hơn nên áp lực huy động vốn cũng lớn hơn. Tuy nhiên, với các biện pháp điều hành của Ngân hàng KL99 đăng nhập cùng sự đồng thuận của hệ thống ngân hàng, xu hướng tăng lãi suất được kỳ vọng sẽ dần được điều chỉnh lại, sau đó đi ngang trước khi có điều kiện giảm dần./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80