Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
aa
Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025 Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

Vietcombank giữ ngôi, VietinBank và VPBank bứt tốc mạnh

Tính đến ngày 5/5, toàn bộ 27 ngân hàng niêm yết đều đã công bố báo cáo tài chính quý I/2026, ngoại trừ ABBank mới công bố số liệu riêng lẻ. Bức tranh lợi nhuận trước thuế ghi nhận nhiều gam màu tương phản rõ nét, với 19/27 ngân hàng vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ, trong đó có nơi tăng bằng lần. Trong khi đó, có 8 ngân hàng đi ngược xu hướng, giảm sâu tới 70%, kéo theo biến động đáng kể về thứ hạng.

Theo đó, Vietcombank tiếp tục giữ “ngôi vương” với 11.802,7 tỷ đồng, tăng 8,7% và không thay đổi thứ hạng. Điểm nhấn đáng chú ý trong nhóm “big 4” là VietinBank bứt tốc mạnh mẽ, vươn lên vị trí thứ 2 với 11.139,4 tỷ đồng, tăng tới 63,3% và nhảy 3 bậc trên bảng xếp hạng. Đây cũng là hai ngân hàng hiếm hoi trong nhóm khảo sát đạt lợi nhuận trước thuế trên 11.000 tỷ đồng. Ngược lại, BIDV dù vẫn tăng trưởng 15,6%, đạt 8.571,6 tỷ đồng, lại lùi 2 bậc xuống vị trí thứ 5.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Ở khối ngân hàng tư nhân, MB đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8%, xếp hạng ba, chỉ đứng sau hai ngân hàng quốc doanh là Vietcombank và VietinBank. Trong khi đó, Techcombank ghi nhận 8.870,0 tỷ đồng, tăng 22,6% và giữ vị trí thứ 4.

Nhóm bám đuổi phía sau gồm VPBank với 7.920,8 tỷ đồng, tăng mạnh 57,9% và nhích lên hạng 6; ACB đạt 5.368,1 tỷ đồng, tăng 16,8% và giữ nguyên hạng 8.

Trong nhóm ngân hàng lãi cao toàn ngành, VietinBank và VPBank nổi bật khi ghi nhận mức tăng trưởng lần lượt 63,3% và 57,9% so với cùng kỳ, đây là tốc độ hiếm thấy ở các ngân hàng quy mô lớn, thậm chí vượt xa nhiều nhà băng “hạt tiêu”.

Ở nửa dưới bảng xếp hạng, bức tranh kém sáng hơn khi nhiều ngân hàng suy giảm lợi nhuận và tụt hạng. SeABank gây chú ý khi lợi nhuận chỉ còn 1.388,3 tỷ đồng, giảm tới 68,1% và “rơi tự do” 7 bậc, đây là mức giảm sâu nhất toàn bảng.

Sacombank đạt 2.106,2 tỷ đồng, giảm 42,7% và lùi 1 bậc; VietBank giảm 32,9% và mất 3 bậc; BacABank giảm 12,2% và lùi 2 bậc; Saigonbank giảm 10,2% và cũng mất 2 bậc.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng quy mô nhỏ lại tạo bất ngờ khi tăng trưởng bứt phá. ABBank dẫn đầu về tốc độ với mức tăng 260,9%, tiếp đến là PGBank (tăng187,3%), BVBank (bật tăng 168,8%), KienlongBank (tăng 46,3%), VietABank (tăng 44,1%) và NCB (tăng 42,9%), qua đó, cải thiện đáng kể vị trí trên bảng xếp hạng.

Nhiều yếu tố chi phối “bánh lái” lợi nhuận

Trong báo cáo điểm qua kế hoạch KL99 com tặng +199k năm 2026 của ngành ngân hàng, Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho biết, các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 13,5% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 16% của năm 2025.

Các ngân hàng vẫn thể hiện quan điểm tích cực về triển vọng KL99 com tặng +199k, song mức độ thận trọng đã gia tăng trước những bất định đến từ môi trường vĩ mô thế giới, điều này cũng khiến nhiều nơi tăng mạnh trích lập dự phòng.

Đằng sau bức tranh lợi nhuận quý I/2026 là sự chi phối của nhiều yếu tố đan xen, từ tăng trưởng tín dụng, diễn biến Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất lãi thuần và nguồn thu ngoài lãi, đến tổng Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất hoạt động và việc chủ động gia tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng..., qua đó, chi phối “bánh lái” lợi nhuận của từng ngân hàng.

Lợi nhuận ngân hàng vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, nơi thắng lớn, chỗ hụt hơi
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng “đi ngược”. Ảnh minh họa.

Trong nhóm ngân hàng nổi bật, Vietcombank tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu với lợi nhuận trước thuế 11.802,7 tỷ đồng. Động lực tăng trưởng đến từ dư nợ cho vay đạt khoảng 1,7 triệu tỷ đồng (tăng 19,7% so với cùng kỳ và 4,9% so với cuối năm 2025), qua đó, kéo Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất lãi thuần lên 17.651,1 tỷ đồng (tăng 29%) và tổng Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất hoạt động đạt 21.179,8 tỷ đồng (tăng 22,7%). Dù chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng vọt 231,4% lên 2.493,1 tỷ đồng, Vietcombank vẫn vững vàng ngôi đầu bảng lợi nhuận.

Trước câu hỏi của cổ đông tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua về khoảng cách lợi nhuận của Vietcombank đang dần thu hẹp so với các ngân hàng khác, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank cho biết, ngân hàng sẽ có những giải pháp cải thiện NIM (biên lãi ròng), nhưng quan trọng nhất là có danh mục khách hàng an toàn và hiệu quả.

“Khách hàng tốt thì chắc chắn lợi nhuận sẽ tốt” - lãnh đạo Vietcombank nhấn mạnh. Bên cạnh đó, ngân hàng đang tìm cách đa dạng hóa nguồn thu, hiện các đơn vị đang nghiên cứu và trong quý II/2026 sẽ thống nhất về định hướng chiến lược phát triển trong 5 năm tới của Vietcombank.

VietinBank là điểm sáng tăng trưởng, khi lợi nhuận đạt 11.139,4 tỷ đồng, tăng tới 63,3% so với cùng kỳ. Dư nợ cho vay VietinBank cuối quý I/2026 lần đầu vượt hơn 2 triệu tỷ đồng (tăng 12,7% cùng kỳ và nhích tăng 1,8% so với đầu năm), với Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất lãi thuần 19.385,2 tỷ đồng (tăng 25,3%). Tổng Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất hoạt động VietinBank đạt 25.101,6 tỷ đồng (tăng 22,7%). Đáng chú ý, chi phí dự phòng giảm 5,1% xuống 7.700,9 tỷ đồng, song vẫn ở mức cao, phần nào trở thành yếu tố then chốt giúp lợi nhuận bứt phá.

Ở nhóm quy mô nhỏ, dù chưa công bố báo cáo hợp nhất, ABBank vẫn gây chú ý khi lợi nhuận riêng lẻ quý I/2026 đạt 1.500,3 tỷ đồng, tăng mạnh 260,9%. Động lực chủ yếu đến từ nguồn thu ngoài lãi, đặc biệt là mảng dịch vụ đạt 413 tỷ đồng, hơn gấp đôi cùng kỳ. Điểm đột biến nằm ở Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất từ hoạt động khác lên tới 1.354,6 tỷ đồng, gấp gần 8 lần năm trước. Dù chi phí dự phòng tăng gấp 2,5 lần lên 855,2 tỷ đồng, lợi nhuận vẫn tăng gấp 3,7 lần.

Để chạm tới mục tiêu lợi nhuận 4.500 tỷ đồng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 9%, với quy mô dư nợ “hạt tiêu” dự kiến 139 nghìn tỷ đồng, lãnh đạo ABBank nhiều lần nhấn mạnh yếu tố then chốt không nằm ở quy mô, mà ở sự linh hoạt, sáng tạo và đột phá trong điều hành.

Theo Tổng giám đốc ABBank Lê Mạnh Hùng, bất kỳ một tổ chức nào đều có “lương khô” hay “nguồn dự trữ” khác biệt. Với ABBank, “lương khô” không chỉ đến từ xử lý nợ xấu, mà còn từ những nguồn thu chủ động, từ lãi cho vay liên ngân hàng quy mô khoảng 40.000 tỷ đồng, phí thẻ tín dụng, cùng các sản phẩm về giáo dục, bảo hiểm hưu trí... bền bỉ nuôi tăng trưởng.

PGBank cũng là trường hợp tăng trưởng đột biến với lợi nhuận đạt 275,7 tỷ đồng (tăng 187,3%). Dư nợ cho vay PGBank đạt 44.382,6 tỷ đồng, nhưng giảm 4,2% so với cuối năm 2025, khiến Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất lãi thuần gần như đi ngang. Dù vậy, tổng Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất hoạt động vẫn tăng 20,5% từ nguồn thu ngoài lãi, trong khi chi phí dự phòng giảm mạnh 53,4% xuống 68,3 tỷ đồng. Việc cắt giảm dự phòng là yếu tố chính giúp lợi nhuận PGBank tăng vọt./.

8 nhà băng “đi lùi” lợi nhuận

Trong bức tranh tăng trưởng tích cực toàn ngành, có tới 8/27 nhà băng đi lùi lợi nhuận quý I/2026. Điển hình là SeABank với lợi nhuận trước thuế đạt 1.388,3 tỷ đồng, giảm tới 68,1% cùng kỳ và là mức giảm sâu nhất nhóm. Nguyên nhân đến từ nhiều lực kéo cùng lúc khi tín dụng tăng chậm, với dư nợ cuối quý I/2026 đạt 238.723,6 tỷ đồng, nhích tăng 0,7% so với đầu năm. Thu nhập lãi thuần SeABank giảm nhẹ 1,5% xuống 2.413,5 tỷ đồng; trong khi tổng Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất hoạt động lao dốc 49,9%.

Theo lý giải của lãnh đạo SeABank, chi phí trả lãi tăng do lãi suất huy động tăng, lãi suất thị trường liên ngân hàng biến động mạnh. Bên cạnh đó, Trong quý I/2025, SeABank ghi nhận việc chuyển nhượng Công ty Kl99kl tải ứng dụng TNHH MTV Bưu điện (PTF) cho AEON Financial Service nên lợi nhuận cao hơn quý I/2026. Đồng thời, chi phí dự phòng tăng 36% lên 592,4 tỷ đồng, khiến lợi nhuận bị “bào mòn” mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80