Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng tiếp tục khởi sắc khi 27 ngân hàng niêm yết đạt tổng lợi nhuận trước thuế hơn 356.281 tỷ đồng, tăng 18,8%, với 24 nhà băng ghi nhận tăng trưởng. Vietcombank giữ ngôi đầu với 44.020 tỷ đồng, còn VietinBank bứt phá 36,8%, áp sát vị trí số 1; nhiều nhà băng lợi nhuận tăng bứt phá, tạo nên cuộc đua lợi nhuận gay cấn toàn ngành.
aa
tiếp tục giữ vững vị trí số 1 về lợi nhuận trước thuế năm 2025 với 44.020 tỷ đồng, tăng 4,2% so với năm 2024, qua đó, duy trì ngôi đầu toàn ngành nhiều năm liên tiếp.

Đáng chú ý, ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng 36,8%, đạt 43.446 tỷ đồng. Nhờ tốc độ tăng trưởng vượt trội, VietinBank đã vươn từ hạng 3 năm 2024 lên á quân năm 2025, qua đó, vượt BIDV và rút ngắn đáng kể khoảng cách với Vietcombank.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Theo đó, khoảng cách lợi nhuận giữa hai ngân hàng chỉ còn chưa đầy 600 tỷ đồng, từ mức trên 10.000 tỷ đồng cùng kỳ, cho thấy VietinBank đang bám sát Vietcombank, tạo nên cuộc đua lợi nhuận quyết liệt nhất trong nhóm ngân hàng quốc doanh.

Đằng sau đà tăng bứt phá của VietinBank, báo cáo tài chính của ngân hàng cho thấy, về hoạt động cốt lõi, Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất hoạt động của VietinBank tăng 6,6% (tăng 5.386 tỷ đồng) lên 87.294,8 tỷ đồng, đứng thứ 2 nhóm ngân hàng niêm yết (sau BIDV). Trong khi đó, tổng Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất hoạt động của Vietcombank chỉ đạt 72.357,6 tỷ đồng, tăng 5,5% (tăng 3.779 tỷ đồng) và xếp thứ 4.

Dù chi phí hoạt động VietinBank tăng mạnh hơn (tăng tới 17,8%, tương ứng 4.005 tỷ đồng), mức giảm dự phòng lớn đã bù đắp và tạo đột biến lợi nhuận. Theo đó, VietinBank giảm mạnh dự phòng từ 27.598 tỷ đồng xuống 17.298 tỷ đồng, tức giảm 37,3%, giúp lợi nhuận “giải phóng” thêm khoảng 10.301 tỷ đồng. Ngược lại, Vietcombank chỉ giảm dự phòng 3,9%, tương đương 130 tỷ đồng, mức trích lập dự phòng cũng chỉ hơn 3.300 tỷ đồng, thấp hơn VietinBank đáng kể.

Vietcombank và VietinBank cũng hai ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế "khủng" trên 40.000 tỷ đồng, tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt toàn hệ thống.

Nhóm ngân hàng có lợi nhuận trước thuế trên 30.000 - 40.000 tỷ đồng ghi nhận 4 cái tên gồm , , và , cho thấy mức độ cạnh tranh ngày càng quyết liệt và khoảng cách giữa các ngân hàng được thu hẹp rõ rệt. So với giai đoạn trước, khi chỉ có BIDV và VietinBank góp mặt trong nhóm này với lợi nhuận quanh 32.000 tỷ đồng, bức tranh lợi nhuận toàn ngành đã mở rộng đáng kể.

Trong đó, BIDV đạt 37.863 tỷ đồng, tăng 18,4%, nhưng do tăng chậm hơn VietinBank nên đã tụt xuống hạng 3.

MB ghi nhận 34.268 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 18,9% và giữ nguyên vị trí thứ 4; Techcombank đạt 32.538 tỷ đồng, tăng 18,2%, tiếp tục đứng hạng 5 và không có biến động thứ hạng.

VPBank đạt 30.625 tỷ đồng, tăng mạnh 53%, qua đó, tăng một bậc lên hạng 6. Đại diện VPBank cho biết, tổng Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất hoạt động (TOI) hợp nhất gần 75.000 tỷ đồng, tiếp tục dẫn đầu khối ngân hàng tư nhân. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất lên mức cao nhất lịch sử, hoàn thành 121% kế hoạch đã đề ra. Riêng quý IV/2025, lợi nhuận vượt 10.200 tỷ đồng, cao nhất trong 4 năm qua.

Nhiều ngân hàng tăng bứt phá, thoát lỗ, còn số ít "ngược dòng"

Xét về tốc độ tăng trưởng toàn ngành, nổi bật nhất là , với mức tăng trưởng lợi nhuận lên tới 345,5%, cao nhất trong nhóm được phân tích. Con số này cũng vượt 97% mục tiêu lãi trước thuế 1.800 tỷ đồng đề ra cho cả năm. Qua đó, giúp thứ hạng ABBank tăng mạnh từ 23 lên 18, cải thiện 5 bậc, mức tăng hạng lớn nhất trong nhóm.

Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng
Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng. Ảnh minh họa.
Xét về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành năm 2025, bức tranh phân hóa thể hiện rõ nét. ABBank dẫn đầu với mức tăng 345,5%, cải thiện 5 bậc thứ hạng; KienlongBank cũng tăng ba chữ số (108,9%). NCB đảo chiều thoát lỗ, ghi nhận lợi nhuận dương trở lại. Nhiều ngân hàng tăng trưởng trên 50% như: PGBank, VPBank, SaigonBank... Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng lợi nhuận đi lùi do gia tăng mạnh trích lập dự phòng, củng cố chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp.

cũng ghi dấu ấn đáng kể trong năm 2025 khi lợi nhuận hợp nhất đảo chiều dương; trong đó, kết quả trước trích lập và thoái lãi dự thu đạt 947 tỷ đồng, vượt xa kế hoạch 59 tỷ đồng. Kết quả này mang ý nghĩa quan trọng khi ngân hàng chính thức thoát lỗ, đánh dấu bước tiến đáng kể trong quá trình tái cơ cấu.

NCB cũng chủ động trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng ở mức cao 702,4 tỷ đồng, tạo nền tảng an toàn hơn cho hoạt động KL99 com tặng +199k.

KienlongBank cũng ghi nhận tăng trưởng 108,9%, lợi nhuận tăng lên 2.322,7 tỷ đồng, chính thức vượt mốc 2.000 tỷ đồng. Thứ hạng lợi nhuận tăng 2 bậc, từ 21 lên 19.

VPBank tiếp tục nằm trong nhóm tăng trưởng cao với mức 53%, nâng lợi nhuận trước thuế năm 2025 lên 30.624,9 tỷ đồng. Với quy mô tổng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp, lợi nhuận lớn, mức tăng này mang ý nghĩa đáng kể, giúp VPBank cải thiện thứ hạng từ 7 lên 6.

Ở chiều ngược lại, bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng cũng nhiều "gam xám" khi ghi nhận 3 ngân hàng lợi nhuận trước thuế đi lùi, gồm: ACB, Eximbank và Sacombank.

Theo đó, Sacombank sụt giảm mạnh 40%, đạt 7.628 tỷ đồng, khiến thứ hạng rơi 4 bậc, xuống hạng 13. Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự gia tăng đột biến của chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Cụ thể, chi phí dự phòng của ngân hàng tăng từ 1.974 tỷ đồng năm 2024 lên 11.384 tỷ đồng năm 2025, tương đương mức tăng tới 476,6%, “bào mòn” đáng kể kết quả KL99 com tặng +199k.

Dù vậy, hoạt động cốt lõi của Sacombank vẫn ghi nhận tín hiệu tích cực khi tổng Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất hoạt động tăng 11,8%, đạt 32.056,7 tỷ đồng và lợi nhuận thuần từ hoạt động KL99 com tặng +199k tăng 29,4%, lên 19.011,8 tỷ đồng.

Theo đại diện ngân hàng Sacomban , điều này phản ánh quan điểm quản trị rủi ro thận trọng và chủ động của Sacombank nhằm nâng cao khả năng phòng thủ trong bối cảnh rủi ro thị trường đang có xu hướng gia tăng và đảm bảo sự chủ động trong việc xử lý các Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp tồn đọng./.

Lợi nhuận ngân hàng dự báo tiếp đà tăng tốc, vượt 20%

Tại báo cáo chiến lược đầu tư năm 2026, nhóm phân tích Công ty cổ phần Kl99com link không chặn Vietcap dự báo tăng trưởng lợi nhuận tổng hợp của nhóm ngân hàng trong danh mục theo dõi sẽ tăng tốc từ mức khoảng 14% năm 2025 lên trên 20% giai đoạn 2026 - 2027. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ hai yếu tố. Thứ nhất, tổng Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất lãi dự kiến tăng 21,4% nhờ tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức vững chắc và biên lãi ròng (NIM) ổn định. Thứ hai, tổng Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất ngoài lãi được dự báo tăng 9,6%, dẫn dắt bởi Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất từ thu hồi nợ cải thiện rõ rệt khi thị trường bất động sản tiếp tục phục hồi.

Chi phí hoạt động được kỳ vọng sẽ được kiểm soát tốt, chỉ tăng khoảng 14,6%, trong bối cảnh các ngân hàng tiếp tục tối ưu hóa cơ cấu chi phí thông qua đẩy mạnh số hóa và nâng cao hiệu quả vận hành. Ngược lại, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng được dự báo tăng 23%, phản ánh việc chi phí tín dụng tại BIDV và LPBank quay trở lại mức bình thường sau giai đoạn giảm bộ đệm bao phủ nợ xấu; đồng thời, các ngân hàng tập trung vào bán lẻ như HDBank và TPBank tiếp tục đẩy mạnh xử lý nợ xấu.

Nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Kl99com link không chặn MB (MBS) cũng dự báo lạc quan lợi nhuận ngành ngân hàng tăng 21% năm 2026, cao hơn so với năm 2025 và cao hơn lợi nhuận bình quân của các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 niêm yết (17,4%). Mức tăng trưởng này đạt được nhờ 3 ngân hàng lớn (Vietcombank, VietinBank và BIDV) đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng và ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận 2 chữ số. Tín dụng dự báo tiếp tục tăng trưởng ở mức 20%, trong khi NIM xu hướng đi ngang./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80