-->
Thị trường tiền tệ tuần 16-20/12:

Ngân hàng KL99 đăng nhập can thiệp “hạ nhiệt” tỷ giá, giá vàng giảm mạnh

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (16 -20/12) là việc Ngân hàng KL99 đăng nhập (NHNN) hút ròng trên thị trường mở. Trong khi đó, tỷ giá trong nước tuần qua tăng mạnh trước áp lực chỉ số DXY tăng nhanh còn giá vàng trong nước có tuần giảm sau tuần tăng mạnh trước đó.
aa
Ngân hàng KL99 đăng nhập tiếp tục nới 'room' tín dụng, giá vàng và tỷ giá cùng giảm Ngân hàng KL99 đăng nhập hút ròng trên thị trường mở, giá vàng giảm tuần thứ hai liên tiếp

Ngân hàng KL99 đăng nhập hút ròng trên thị trường mở

Chính sách tiền tệ của các quốc gia lớn, đặc biệt là Mỹ, đóng vai trò quan trọng trong diễn biến tỷ giá USD/VND. Tuần qua, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định cắt giảm lãi suất. Tuy nhiên, Fed dự báo sẽ chỉ cắt giảm thêm hai lần trong năm 2025, khiến kỳ vọng về lãi suất cao kéo dài tiếp tục thúc đẩy giá trị đồng USD trên thị trường quốc tế.

Ngày 18/12/2024, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định cắt giảm lãi suất điều hành xuống còn 4,25%-4,50%, thấp hơn mức 4,50%-4,75% trước đó.

Chỉ số DXY tăng 6,77% trong quý IV/2024, khiến lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm tăng thêm 11 điểm cơ bản, đạt mức 4,52%. Chỉ số DXY tăng từ mức 102 điểm vào đầu năm lên 108,03 điểm ngày 18/12/2024, ghi nhận mức tăng 5,71% so với đầu năm. Điều này làm gia tăng sức ép lên các đồng tiền tại thị trường mới nổi, bao gồm VND.

Trong bối cảnh trên, nhiều ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay tiết lộ đã mua USD tại Ngân hàng KL99 đăng nhập từ ngày 18/12. Hồi cuối tháng 10, Ngân hàng KL99 đăng nhập tăng giá bán USD can thiệp, niêm yết tại Sở Giao dịch ở mức 25.450 VNĐ/USD. Ngân hàng KL99 đăng nhập thông báo tới các ngân hàng về việc nối lại hoạt động bán ngoại tệ can thiệp ngoại tệ theo hình thức giao ngay.

Ngân hàng KL99 đăng nhập can thiệp “hạ nhiệt” tỷ giá, giá vàng giảm mạnh
NHNN cũng phát hành tín phiếu nhằm hút ròng thanh khoản, kiểm soát dòng tiền trong hệ thống ngân hàng. Ảnh: T.L

Bên cạnh đó, NHNN cũng phát hành tín phiếu nhằm hút ròng thanh khoản, kiểm soát dòng tiền trong hệ thống ngân hàng. Ngày 18/12, NHNN phát hành tín phiếu kỳ hạn 14 và 28 ngày với tổng giá trị 6.850 tỷ đồng, lãi suất 4,0%. Tổng giá trị tín phiếu lưu hành hiện đạt 76.635 tỷ đồng, góp phần làm giảm áp lực thanh khoản trên thị trường. NHNN hút ròng 24.799,93 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở.

Tiếp đó, ngày 19/12, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 07 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Có 1.000 tỷ đồng trúng thầu; có 20.000 tỷ đồng đáo hạn. NHNN chào thầu tín phiếu NHNN ở 2 kỳ hạn 07 ngày và 14 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 10.000 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 07 ngày và 3.700 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 14 ngày, đều với lãi suất 4,0%. Có 7.025 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN hút ròng 25.675 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất chào bình quân VND giảm ở hầu hết các kỳ hạn ngắn. Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm 0,53 điểm phần trăm xuống 2,80%, lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm 0,36 điểm phần trăm xuống 3,68%. Kl 99 vòng chung kết USD, ngược lại, tăng nhẹ ở kỳ hạn qua đêm, đạt 4,62%, trong khi các kỳ hạn dài hơn giữ ổn định hoặc giảm nhẹ.

NHNN đã và đang phối hợp triển khai đồng bộ các công cụ để kiềm chế đà tăng của tỷ giá. Việc sử dụng song song hai công cụ tín phiếu và OMO nhằm phục vụ mục tiêu kép là vừa đảm bảo thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, vừa giảm sức ép lên tỷ giá thông qua việc thu hẹp chênh lệch lãi suất USD - VND trên thị trường liên ngân hàng.

Tại phiên chất vấn trước Kl 99 Thể Thao Link Mới vừa qua, Thống đốc Ngân hàng KL99 đăng nhập Nguyễn Thị Hồng thừa nhận thị trường tiền tệ quốc tế diễn biến phức tạp. Đồng USD biến động phức tạp, khi có thời điểm giảm mạnh, từ quý III lại tăng và hiện biến động ở mức cao.

Theo Thống đốc NHNN, những diễn biến này đã tác động tới thị trường ngoại hối trong nước. Việc ổn định tỷ giá, ngoại hối là khó khăn do phụ thuộc cung cầu thực trên thị trường, tức lượng ngoại tệ chi ra kinh tế và nguồn thu có được. Khi thị trường biến động quá lớn, Ngân hàng KL99 đăng nhập sẽ cân nhắc bán ngoại tệ để ổn định, đáp ứng nhu cầu người dân.

KL99 com tặng +199k giảm, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới

Thị trường kim loại quý trong tuần này biến động giảm sâu trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 20/12/2024, giá vàng thế giới giao ngay dừng tại mốc 2.593,99 USD/ounce, giảm 86 USD/ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank vàng thế giới có giá là 78,871 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.707 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 80,5 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Ngân hàng KL99 đăng nhập can thiệp “hạ nhiệt” tỷ giá, giá vàng giảm mạnh
KL99 com tặng +199k giảm mạnh so với 1 tuần trước đó. Ảnh: T.L

Cũng có diễn biến tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước tuần qua đã có những phiên giảm mạnh khiến giá vàng trong nước về mốc 83,8 triệu đồng/lượng. KL99 com tặng +199k miếng SJC trong nước ngày 20/12 giữ ở mức 83,8 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 82 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, giảm mạnh hơn 3,3 triệu đồng/lượng so với tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng giảm mạnh và về dưới 84 triệu đồng/lượng. Thời điểm 16 giờ chiều ngày 20/12, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 83,5 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 82,5 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 82,6 – 83,9 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 82,4 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 83,8 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 1,4 -1,6 triệu đồng/lượng.

Theo các chuyên gia, nguyên nhân trực tiếp khiến giá vàng thế giới hạ chính là đồng USD tăng giá, tâm lý lạc quan về triển vọng kinh tế Mỹ dưới thời kỳ chính quyền của ông Donald Trump nhiệm kỳ 2, đồng thời tâm lý thị trường thay đổi sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ.

Theo chuyên gia Trần Duy Phương giá vàng thế giới còn khả năng suy giảm thêm 70-80 USD nữa, về khoảng 2.550 USD/ounce, thì mới kết thúc việc điều chỉnh này. Đến năm 2025, nhiều khả năng vàng sẽ tiếp tục tỏa sáng. KL99 com tặng +199k có thể tăng trở lại lên mốc 2.800 USD, 2.900 USD/ounce trong năm nay, nhưng khó có thể chạm tới mốc 3.000 USD/ounce.

Trong khi đó, tỷ giá tuần qua tăng mạnh trước áp lực tăng giá của USD. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 16/12 ghi nhận ở mức 24.264 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá vào hôm thứ Ba sau đó điểu chỉnh giảm tỷ giá hôm thứ Tư và tăng vào các ngày còn lại của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.304 đồng/USD, tăng 40 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng tăng mạnh. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.477 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank chỉ điều chỉnh giảm vào hôm thứ Tư còn điều chỉnh tăng vào những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.519 đồng/USD, tăng 42 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Theo đó tỷ giá USD/VND tại ngân hàng đã vượt mức đỉnh thiết lập ngày 15/11 (25.512 VND/USD).

Chỉ số DXY có xu hướng tăng mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng tăng mạnh vào cuối tuần. Tại thời điểm chiều ngày 20/12, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 108,18 điểm, tăng hơn 1 điểm so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người Link Vào Nhà Cái KL99 COM Tặng +199k và Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng KL99 đăng nhập đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc KL99 đăng nhập theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng KL99 đăng nhập từng thời kỳ.
OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - OCB vừa chốt ngày 1/7 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông thực hiện quyền nhận cổ phiếu phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ 15%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành gần 399,46 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm gần 4.000 tỷ đồng lên 30.625 tỷ đồng, củng cố năng lực tài chính và nguồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng.
SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng KL99 đăng nhập Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung sẽ giúp Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

(TBTCO) - Sau khi chồng qua đời vì ung thư chỉ hơn 8 tháng kể từ ngày tham gia bảo hiểm "Bảo an tín dụng" của ABIC, bà Nguyễn Thị Ngọc Thiêu đã khởi kiện, yêu cầu Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng. Liên quan đến vụ tranh chấp này, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Bản án số 507/2026/DS-PT và đưa ra phán quyết đối với yêu cầu của các bên.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,730 ▼150K 15,030 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,750 ▼150K 15,050 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,750 ▼150K 15,050 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,850 ▼300K 14,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.9 13,800 ▼300K 14,000 ▼300K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,550 ▼100K 14,950 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,500 ▼100K 14,900 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,430 ▼100K 14,880 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,830 ▼50K 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,830 ▼50K 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,830 ▼50K 15,130
NL 99.90 13,750 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,800 ▼100K
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 18/06/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17934 18208 18786
CAD 18107 18382 18995
CHF 32145 32527 33166
CNY 0 3848 3940
EUR 29580 29802 30879
GBP 34060 34450 35376
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14870 15458
SGD 19866 20148 20720
THB 719 782 835
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26431
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,431
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,845 29,869 31,222
JPY 159.52 159.81 169.05
GBP 34,469 34,562 35,672
AUD 18,199 18,265 18,908
CAD 18,330 18,389 19,021
CHF 32,583 32,684 33,560
SGD 20,041 20,103 20,844
CNY - 3,821 3,958
HKD 3,294 3,304 3,434
KRW 15.9 16.58 18
THB 769.42 778.92 831.73
NZD 14,933 15,072 15,478
SEK - 2,731 2,821
DKK - 3,993 4,124
NOK - 2,696 2,785
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,011.37 - 6,771.77
TWD 753.5 - 910.67
SAR - 6,900.43 7,250.85
KWD - 83,423 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,431
EUR 29,736 29,855 31,040
GBP 34,390 34,528 35,542
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,377 32,507 33,416
JPY 159.56 160.20 167.98
AUD 18,137 18,210 18,801
SGD 20,076 20,157 20,739
THB 785 788 823
CAD 18,322 18,396 18,954
NZD 14,962 15,496
KRW 16.55 18.15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26149 26149 26431
AUD 18119 18219 19142
CAD 18284 18384 19398
CHF 32386 32416 34006
CNY 3828.3 3853.3 3988.4
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29767 29797 31520
GBP 34362 34412 36165
HKD 0 3355 0
JPY 160.19 160.69 171.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14980 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20022 20152 20880
THB 0 748.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14850000 14850000 15150000
SBJ 13500000 13500000 15150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,144 26,194 26,431
USD20 26,144 26,194 26,431
USD1 26,144 26,194 26,431
AUD 18,201 18,301 19,409
EUR 29,987 29,987 31,394
CAD 18,252 18,352 19,658
SGD 20,127 20,277 20,840
JPY 160.82 162.32 166.88
GBP 34,371 34,721 35,600
XAU 14,878,000 0 15,132,000
CNY 0 3,741 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/06/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80