Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng KL99 đăng nhập chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Kl 99 vòng chung kết liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
aa

"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Kl 99 vòng chung kết hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Kl 99 vòng chung kết liên ngân hàng hạ về 6-8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn

Trong tuần qua từ ngày 6/4 đến ngày 10/4, kênh thị trường mở (OMO) ghi nhận trạng thái điều tiết linh hoạt của Ngân hàng KL99 đăng nhập, với xu hướng chuyển sang hút ròng khi khối lượng đáo hạn gia tăng.

Cụ thể, tổng khối lượng trúng thầu đạt khoảng 70.369,25 tỷ đồng, chủ yếu ở các kỳ hạn 14 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lên tới khoảng 136.627 tỷ đồng, vượt xa lượng bơm mới. Qua đó, Ngân hàng KL99 đăng nhập đã hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trong tuần.

Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD lao dốc
Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng. Ảnh tư liệu.

So với tuần trước khi hệ thống được bơm ròng khoảng 110 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản, diễn biến tuần này cho thấy áp lực thanh khoản đã hạ nhiệt, tạo điều kiện để cơ quan điều hành chủ động rút bớt tiền về, đồng thời vẫn giữ cân bằng thị trường nhằm kiểm soát lãi suất liên ngân hàng và giảm áp lực lên tỷ giá.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều giữa các kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm 0,5 điểm phần trăm xuống 5,79%, trong khi kỳ hạn 1 tuần tăng nhẹ 0,11 điểm phần trăm lên 6,27%. Ngược lại, kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng lần lượt giảm 0,13 và 0,28 điểm phần trăm, xuống 6,43% và 7,49%; riêng kỳ hạn 3 tháng tăng nhẹ 0,14 điểm phần trăm lên 7,85%.

Về doanh số, thanh khoản thị trường không biến động đáng kể, với doanh số cho vay qua đêm dưới 800 nghìn tỷ đồng/phiên.

Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD lao dốc

Theo số liệu Ngân hàng KL99 đăng nhập, tính tới 24/3, tín dụng tăng 2,15% so với cuối năm 2025, thấp hơn so với cùng kỳ 2,28%, nhưng so với huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng 0.44% cho thấy áp lực thanh khoản vẫn khá cao tại các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Điều này cũng thể hiện qua làn sóng tăng lãi suất huy động mới vào cuối tháng 3.

"Nhìn chung, áp lực thanh khoản nhiều khả năng sẽ tiếp tục đẩy mặt bằng lãi suất tăng trong thời gian tới, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu vốn lớn nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao, đồng thời các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới có thể quay lại xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ do rủi ro lạm phát gia tăng" - Kl99com link không chặn Yuanta nhận định.

Theo ghi nhận của Công ty TNHH Kl99com link không chặn Yuanta Việt Nam, tuần từ ngày 23 - 27/3 là tuần tăng lãi suất huy động mạnh nhất kể từ giữa tháng 12/2025 với đà tăng trải đều ở cả ngân hàng lớn, nhỏ cũng như ngân hàng nước ngoài.

Dự đoán một số yếu tố có thể gây áp lực lên lãi suất qua đêm trong ngắn hạn, theo Công ty Cổ phần Kl99com link không chặn Vietcap, khoảng 312 nghìn tỷ đồng hợp đồng repo OMO sẽ đáo hạn trong tháng 4 và có thể sẽ gây áp lực lên thanh khoản.

Cùng với đó, khả năng tiếp tục gia tăng của lãi suất huy động tại các ngân hàng trong đầu tháng 4, một số ngân hàng đã ghi nhận mức lãi suất cao, bao gồm: PGBank, BVBank, OCB và BacABank với mức lãi suất huy động phổ biến 7%/năm; ngân hàng số Vikki Bank có thể sở hữu mức lãi suất huy động lên tới 9,3%/năm; ngân hàng số Cake by VPBank có thể sở hữu mức lãi suất huy động lên tới 8,7%/năm.

Dù vậy, đà tăng lãi suất được kỳ vọng sẽ chững lại sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng KL99 đăng nhập và các tổ chức tín dụng chiều 9/4. Tuy nhiên, để mặt bằng lãi suất thực sự giảm, vấn đề thanh khoản của hệ thống vẫn cần được giải quyết sớm.

Tỷ giá USD ngân hàng “lặng sóng”, nhiều ngoại tệ tăng mạnh

Trong tuần qua, tỷ giá USD/VND ghi nhận diễn biến đồng pha giữa thị trường chính thức và thị trường tự do. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng KL99 đăng nhập công bố nhìn chung biến động hẹp, tăng giảm khoảng 2 - 4 đồng/phiên và chốt tuần ở mức 25.105 VND/USD, tăng nhẹ 7 đồng so với tuần trước, cho thấy định hướng điều hành vẫn ổn định.

Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD lao dốc

Chốt phiên ngày 10/4, tỷ giá USD tại các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay biến động nhẹ và phân hóa giữa các nhà băng. Cụ thể, Agribank niêm yết 26.110 - 26.360 VND/USD, tăng 3 đồng hai chiều. Ngược lại, BIDV điều chỉnh giảm chiều mua, đưa tỷ giá về 26.130 - 26.360 VND/USD, giảm 7 đồng mua vào nhưng tăng 3 đồng bán ra.

Tại nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay cổ phần, Sacombank niêm yết 26.220 - 26.360 VND/USD, tăng 1 đồng chiều mua và 3 đồng chiều bán; Techcombank tăng mạnh hơn ở chiều mua, lên 26.136 - 26.360 VND/USD, tăng 9 đồng mua và 3 đồng bán. Nhìn chung, tỷ giá USD trong hệ thống ngân hàng biến động hẹp, chủ yếu tăng nhẹ ở chiều bán ra, phản ánh xu hướng ổn định của thị trường ngoại hối.

Tỷ giá USD tự do giảm sâu 700 đồng, tín hiệu hạ nhiệt sau đà tăng nóng

Tuần qua, tỷ giá USD tự do quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, giảm mạnh tổng cộng khoảng 700 đồng, tiếp đà giảm 450 đồng của tuần trước. Điều này cho thấy áp lực đầu cơ suy yếu, đồng USD trên thị trường tự do đang hạ nhiệt rõ rệt sau giai đoạn tăng nóng.

Theo quan sát của nhóm phân tích Kl99com link không chặn Yuanta Việt Nam, để hỗ trợ tỷ giá, Ngân hàng KL99 đăng nhập tiếp tục thực hiện nghiệp vụ bán USD kỳ hạn 180 ngày (có hủy ngang) vào ngày 24/3 cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm, đây là lần thứ hai Ngân hàng KL99 đăng nhập sử dụng công cụ này trong năm 2026.

Trong năm 2025, Ngân hàng KL99 đăng nhập đã 5 lần sử dụng công cụ này, trong đó, khoảng 3 tỷ USD bán kỳ hạn đã tới hạn trong tháng 3 và có thể đã được thực hiện một phần trong vài tuần qua.

Dù vậy, nhóm phân tích Kl99com link không chặn Yuanta cho rằng, áp lực tỷ giá vẫn còn cao trong ngắn hạn do đồng USD khả năng tiếp tục tăng khi căng thẳng địa chính trị Trung Đông chưa hạ nhiệt và Kl99ok Cá Cược Bóng Đá leo thang, đồng thời khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục trì hoãn giảm lãi suất. "Cán cân KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay trong nước liên tục thâm hụt những tháng gần đây, 3 tháng 2026 đã nhập siêu 3,64 tỷ USD" - nhóm phân tích Kl99com link không chặn Yuanta đánh giá.

Trong tuần qua, chỉ số DXY ghi nhận xu hướng điều chỉnh giảm nhẹ, hiện quanh mức 98,68 điểm, giảm khoảng 1,55% so với tuần trước. Diễn biến này cho thấy đồng USD suy yếu tương đối trong ngắn hạn, dù trước đó đã có nhịp phục hồi lên vùng trên 100 điểm.

Theo số liệu từ Cục Thống kê Lao động Mỹ, lạm phát hàng năm trong tháng 3 đã tăng lên 3,3%, từ mức 2,4% của tháng 2 và mức cao nhất kể từ tháng 5/2024, cho thấy áp lực giá đang quay trở lại. Động lực chính đến từ giá năng lượng, khi dầu thô tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông. Đây được coi là dữ liệu quan trọng định hình kỳ vọng chính sách của Fed trong ngắn hạn.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR tiếp tục tăng mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá đạt 29.984,4 - 31.565,13 VND/EUR, tăng 378,7 đồng chiều mua và 398,7 đồng chiều bán. Tỷ giá GBP cũng ghi nhận xu hướng tăng rõ nét; BIDV ở mức 34.783 - 35.875 VND/GBP, tăng 452 đồng và 472 đồng, phản ánh sức mạnh của đồng bảng Anh.

Đối với đồng CNY, tỷ giá tiếp tục xu hướng tăng. Tại Vietcombank, đồng Nhân dân tệ ở mức 3.756,47 - 3.915,93 VND/CNY, tăng 24,8 đồng chiều mua và 25,9 đồng chiều bán; tại BIDV, tỷ giá bán ra ở mức 3.912 VND/CNY, tăng khoảng 24 đồng so với cuối tuần trước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80