"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 23 - 27/3 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh đầu tuần rồi hạ nhiệt về cuối tuần, với tỷ giá USD tự do có lúc chạm 28.000 đồng, nối dài đà tăng 5 tuần. Ngân hàng KL99 đăng nhập điều hành linh hoạt theo hướng “bơm hút" nhịp nhàng, vừa bán USD kỳ hạn và hút ròng để giảm áp lực tỷ giá; sau đó, nhanh chóng bơm ròng trở lại khi lãi suất liên ngân hàng vượt 8%.
aa
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng" Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép" Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Tỷ giá “nóng” đầu tuần, USD tự do từng chạm 28.000 đồng

Tỷ giá trung tâm ngày 27/3 được Ngân hàng KL99 đăng nhập điều chỉnh giảm 2 đồng, xuống còn 25.100 VND/USD. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay dao động 23.845 - 26.355 VND/USD. Cùng chiều, tỷ giá tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng hạ về 23.895 - 26.305 VND/USD.

Tính chung tuần qua, tỷ giá USD/VND biến động theo nhịp tăng đầu tuần và hạ nhiệt về cuối tuần. Đáng chú ý, ngày 23/3, cả tỷ giá chính thức và thị trường tự do đồng loạt tăng, trong đó tỷ giá USD chợ đen lên quanh 28.000 đồng, cho thấy áp lực tỷ giá gia tăng. Cùng thời điểm, Ngân hàng KL99 đăng nhập đẩy mạnh hút ròng trên 25 nghìn tỷ đồng phiên đầu tuần.

Diễn biến này nhanh chóng tác động lên thị trường tiền tệ khi lãi suất liên ngân hàng tăng vọt vượt 8% phiên ngày 24/3, buộc Ngân hàng KL99 đăng nhập phải đảo chiều điều hành, chào thầu tích cực trên kênh thị trường mở (OMO) để hạ nhiệt thanh khoản.

Cùng ngày, theo thông tin từ Trung tâm Nghiên cứu kinh tế (Ngân hàng MSB), Ngân hàng KL99 đăng nhập thông báo bán ngoại tệ kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang cho các tổ chức tín dụng, nhằm hạ nhiệt tỷ giá. Tỷ giá bán kỳ hạn ngày 24/3 lên tới 26.850 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 23-27/3: "Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%. Ảnh minh họa.

Tỷ giá USD tự do tăng ròng rã 5 tuần

Kết tuần, tỷ giá USD tự do về quanh 27.920 - 27.970 VND/USD (mua vào - bán ra), dù mất mốc 28.000 VND/USD, song vẫn tăng khoảng 220 đồng so với tuần trước và tiếp đà tăng ròng rã 5 tuần. Trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay ghi nhận xu hướng tăng nhẹ, trong đó, chiều mua vào tăng mạnh hơn.

Tại các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay, đơn cử như Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.105 - 26.355 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng lần lượt 36 đồng ở chiều mua và 16 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.145 - 26.355 VND/USD, tăng tương ứng 30 đồng và 20 đồng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt - tăng trở lại trên ngưỡng 100 điểm, lên khoảng 100,7 điểm.

Đồng USD tăng giá khi nhu cầu trú ẩn an toàn gia tăng, trong bối cảnh các tín hiệu trái chiều liên quan đến đàm phán giữa Mỹ và Iran. Nhà đầu tư cũng gia tăng kỳ vọng lạm phát có thể tăng trở lại, kéo theo khả năng các ngân hàng trung ương, bao gồm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), duy trì hoặc tăng lãi suất trong những tháng tới. Nhờ đó, chỉ số USD đã tăng 2,5% theo tháng.

Theo dự báo của Ngân hàng UBS (Thụy Sỹ), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng có thể nâng lãi suất vào ngày 11/6, tạm dừng trong tháng 7 và tiếp tục điều chỉnh vào tháng 9. Trong kịch bản “diều hâu”, ECB có thể hành động sớm hơn nếu giá năng lượng leo thang hoặc lạm phát bất ngờ tăng mạnh, thậm chí nâng lãi suất liên tiếp hoặc tăng tới 50 điểm cơ bản. Ngược lại, nếu căng thẳng Iran hạ nhiệt nhanh, ECB có thể hạn chế hoặc không cần tăng lãi suất.

Trong báo cáo tiền tệ tuần qua, Công ty TNHH Kl99com link không chặn Yuanta Việt Nam cho rằng, tỷ giá USD/VND sẽ còn chịu áp lực trong bối cảnh xung đột Trung Đông đứng trước bước leo thang. Nhất là tỷ giá tự do có thể tiếp tục nhạy cảm hơn trong bối cảnh chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới còn duy trì ở mức cao và biến động giá vàng thế giới chưa ổn định trở lại.

Theo nhóm phân tích Kl99com link không chặn Yuanta, trong nước, giá vàng SJC bán ra giảm chậm hơn nhiều, qua đó, chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới nới rộng lên 20 triệu đồng/lượng.

Có phiên lãi suất liên ngân hàng vọt lên 8%, nhà điều hành bơm mạnh hỗ trợ

Trong tuần qua, từ ngày 23 - 27/3, trên kênh OMO Ngân hàng KL99 đăng nhập điều hành linh hoạt. Ngay phiên đầu tuần, Ngân hàng KL99 đăng nhập hút ròng mạnh khoảng 25.906,67 tỷ đồng khi tỷ giá USD tự do nhích lên 28.000 đồng. Sang ngày 24/3, nhanh chóng đảo chiều, bơm ròng mạnh gần 25.981 tỷ đồng, với khối lượng phát hành tăng vọt lên 58.000 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ thanh khoản khi lãi suất liên ngân hàng có dấu hiệu tăng cao.

Cầm lái linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

Bơm ròng 1.624 tỷ đồng cả tuần, đảo chiều sau khi hút mạnh

Tính chung tuần qua, tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 106.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn thấp hơn, khoảng 104.376 tỷ đồng, khiến Ngân hàng KL99 đăng nhập bơm ròng nhẹ 1.624 tỷ đồng qua kênh OMO, đảo chiều so với trạng thái hút ròng 81.476,77 tỷ đồng tuần trước.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh. Đầu tuần, lãi suất tăng vọt, có phiên lên tới 8,05%; kỳ hạn 1 tuần 8,66%; 2 tuần gần 8,92% ngày 24/3.

Đến ngày 26/3, lãi suất hạ nhiệt khi Ngân hàng KL99 đăng nhập bơm ròng qua OMO, lãi suất qua đêm giảm còn 4,53%; song vẫn cao hơn 0,33 điểm phần trăm cuối tuần trước.

Kl 99 vòng chung kết các kỳ hạn khác vẫn cao. Theo đó, lãi suất 1 tuần 6,58%; tăng mạnh 1,57%; 2 tuần lên 8,11%, tăng 1,14 điểm phần trăm; lãi suất 1 tháng là 7,15%; lãi suất 3 tháng là 7,96%.

Theo nhóm phân tích Kl99com link không chặn Yuanta, thanh khoản hệ thống duy trì trạng thái ổn định, nhưng áp lực vốn ngắn hạn đã tăng trở lại khi Ngân hàng KL99 đăng nhập tiếp tục hút ròng mạnh và quy mô OMO lưu hành giảm sâu, về quanh mức đầu tháng 11/2025.

Ngoài ra, lãi suất huy động trên thị trường 1 có xu hướng tăng mạnh hơn trong tuần vừa qua, trong khi lãi suất tiền gửi online cho kỳ hạn 12 tháng cao nhất khoảng 7,2% thì lãi suất tiền gửi tại quầy có thể lên mức 8 - 9%, tùy điều kiện.

Cũng theo quan sát của Công ty cổ phần Kl99com link không chặn VNDIRECT, xu hướng tăng lãi suất đang dần thể hiện rõ nét, đặc biệt ở kỳ hạn dài và tại khối ngân hàng tư nhân. Trong tuần trước, lãi suất 12 tháng đã tăng mạnh tại một số ngân hàng tư nhân, gồm VPBank (tăng 0,1 điểm phần trăm), MB (tăng 0,6 điểm phần trăm) và TPBank (tăng 0,7 điểm phần trăm).

Đó là chưa tính đến các ngân hàng "big 4" gồm: Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm kỳ hạn dài 12 - 24 tháng sau 3 tháng "án binh bất động"./.

Kl 99 vòng chung kết liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 3 tháng neo cao, thêm áp lực từ xu hướng thắt chặt toàn cầu

"Chúng tôi cho rằng, lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn ngắn nhiều khả năng duy trì xu hướng ổn định, dù có thể sẽ chịu áp lực khi ngày cuối quý sắp đến gần. Trong khi, kỳ hạn 1 - 3 tháng có thể vẫn neo ở vùng cao hơn do lãi suất huy động trên thị trường 1 còn chịu áp lực tăng và nhu cầu cân đối nguồn vốn trung hạn của các ngân hàng vẫn cao. Bên cạnh đó, sự thận trọng về chính sách tiền tệ đang lan rộng trên toàn cầu trong tuần qua, sau khi một loạt các cuộc họp của ngân hàng trung ương các nước trong tuần trước cho thấy xu hướng nới lỏng có khả năng đảo chiều, qua đó, có thể tạo áp lực lên lãi suất và tỷ giá trong nước" - Kl99com link không chặn Yuanta đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80