Kl 99 vòng chung kết hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng KL99 đăng nhập, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
aa
Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng KL99 đăng nhập sẽ theo dõi sát Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9% Kl 99 vòng chung kết “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Kl 99 vòng chung kết hạ nhẹ tại một số ngân hàng

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết các ngân hàng ngày 10/4 cho thấy, một số ngân hàng đã có động thái giảm lãi suất sau cuộc họp với Ngân hàng KL99 đăng nhập chiều ngày 9/4 như: VietABank, VPBank, ABBank, SeABank...

Đơn cử, VietABank và VPBank đã có động thái giảm lãi suất khá rõ ở các kỳ hạn trên 6 tháng. Cụ thể, tại kỳ hạn 6 tháng, VietABank giảm 0,5 điểm phần trăm xuống còn 5,8%/năm, trong khi VPBank cũng giảm 0,5 điểm phần trăm còn 5,9%/năm.

Ở kỳ hạn 12 tháng, VietABank giảm 0,5 điểm phần trăm về 5,9%/năm, VPBank giảm mạnh 0,5 điểm phần trăm xuống 6,1%/năm. Với kỳ hạn 24 tháng, cả hai ngân hàng tiếp tục giảm 0,5 điểm phần trăm, đưa lãi suất về quanh 6,1%/năm.

Đại diện VietABank cho biết, theo biểu lãi suất mới, các kỳ hạn tiền gửi được điều chỉnh giảm với biên độ hợp lý, vừa đảm bảo quyền lợi của khách hàng, vừa phù hợp với định hướng chung về kiểm soát chi phí vốn trong hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, SeABank cũng chủ động triển khai giảm 0,5%/năm lãi suất huy động đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, áp dụng cho các khoản tiền gửi phát sinh mới trên toàn hệ thống từ ngày 10/4.

Ngay sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng KL99 đăng nhập và các tổ chức tín dụng chiều ngày 9/4, đại diện ABBank cho biết, ngân hàng cũng lập tức thực hiện cắt giảm 0,5%/năm lãi suất huy động trên nhiều kỳ hạn.

lãi suất ngày 10/4
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Kl 99 vòng chung kết vẫn neo cao, nhóm dẫn đầu vẫn “giữ nhiệt”

Dù có điều chỉnh giảm cục bộ ngày 9/4, mặt bằng lãi suất 6 tháng tại các ngân hàng vẫn cao hơn đáng kể so với đầu quý IV/2025, với mức tăng phổ biến từ 1,3 - 3,2 điểm phần trăm. Cùng với đó, các ngân hàng tăng lãi suất mạnh nhất thị trường kỳ hạn 6 tháng như: HongLeong Bank, Sacombank, UOB, Techcombank, PGBank... vẫn chưa có động thái hạ lãi suất, cho thấy xu hướng tăng trước đó vẫn chưa bị đảo chiều rõ rệt.

Theo ghi nhận thực tế, một nhân viên OCB cho biết, trong hai ngày gần nhất ngân hàng vẫn giữ nguyên mặt bằng lãi suất, song dự kiến từ thứ hai tuần tới sẽ có thông báo điều chỉnh giảm, mức giảm dự kiến khoảng 0,2 điểm phần trăm.

Nhân viên OCB này cho biết, lãi suất có thể được kéo xuống mức 7,x%/năm, trong bối cảnh có định hướng chung giảm 1 - 2% lãi suất cả ở chiều huy động và cho vay. Cùng với đó, việc tư vấn lãi suất đang được kiểm soát chặt, chỉ cập nhật theo từng ngày và không được thông tin trước.

Khảo sát lãi suất kỳ hạn 6 tháng ngày 10/4, lãi suất huy động tại các ngân hàng nhìn chung vẫn duy trì ở mức cao, dù đã có tín hiệu giảm nhẹ sau chỉ đạo điều hành. Đơn cử, Hong Leong Bank niêm yết mức cao nhất 7,6%/năm, tăng 3,2 điểm phần trăm so với đầu quý IV/2025. Sacombank ở mức 6,6%/năm, tăng 2,4 điểm phần trăm; UOB 6,2%/năm, tăng 2,2 điểm phần trăm.

Nhóm tăng trung bình gồm: Techcombank niêm yết 6,45%/năm, tăng 2,1 điểm phần trăm; PGBank 7,1%/năm, tăng 2,1 điểm phần trăm; BacABank 7,05%/năm, tăng 1,8 điểm phần trăm; Saigonbank 6,5%/năm, tăng 1,7 điểm phần trăm; OCB 6,6%/năm, tăng 1,7 điểm phần trăm; Public Bank niêm yết 6,3%/năm, tăng 1,5 điểm phần trăm...

Như vậy, đặt trong tương quan với làn sóng tăng lãi suất dồn dập từ đầu quý IV/2025, nhịp điều chỉnh giảm hiện tại vẫn chỉ mang tính “hạ nhiệt" nhẹ, chưa đủ để tạo dấu ấn rõ rệt trên nhiều kỳ hạn.

Theo nhận định của Công ty Kl99com link không chặn ACB (ACBS), phản ứng ngay sau phiên họp, hàng loạt ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng - 1 năm trong ngày 9/4, tuy nhiên, đây chủ yếu là phản ứng mang tính ngắn hạn.

Định hướng hạ lãi suất, nhưng cuộc đua lãi suất "ngầm" mới đáng lo

Biểu lãi suất niêm yết trên thị trường thực tế còn chưa bao gồm các chương trình cộng lãi suất “ngầm” mà từng ngân hàng áp dụng. Có những nhà băng niêm yết chỉ quanh hơn 7%/năm, nhưng khi cộng ưu đãi, mức sinh lời thực tế có thể vọt lên tới 8,8%/năm.

Đơn cử, theo chính sách lãi suất huy động khách hàng cá nhân mới nhất của OCB ban hành ngày 9/4, mức lãi suất cao nhất đạt 8,8%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 36 tháng, với điều kiện trả lãi định kỳ 6 tháng/lần (thuộc sản phẩm tiết kiệm thả nổi hoặc Max Savings - tiền gửi sinh lời tối ưu). Đáng chú ý, mức lãi suất cộng thêm cao nhất lên tới 2,25%/năm, áp dụng cho các khoản tiền gửi Max Savings, cho thấy biên độ ưu đãi thực tế cao hơn đáng kể so với mức niêm yết công khai.

lãi suất ngày 10/4
Chính sách lãi suất huy động tại OCB. Ảnh tư liệu.

Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cấp cao Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh từng cảnh báo, việc xuất hiện các hình thức cộng lãi suất "ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động bước sang giai đoạn gay gắt hơn, thậm chí có dấu hiệu phá vỡ mặt bằng niêm yết chính thức. Đây là yếu tố cần được theo dõi chặt chẽ, bởi nếu không kiểm soát tốt, có thể dẫn đến rủi ro lệch chuẩn thị trường và làm méo mó tín hiệu chính sách tiền tệ.

Thông tin sau cuộc họp liên quan tới định hướng chính sách tiền tệ do Ngân hàng KL99 đăng nhập tổ chức chiều ngày 9/4, quy tụ lãnh đạo 46 tổ chức tín dụng cho thấy, các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay dự kiến sẽ giảm lãi suất huy động từ 0,5 - 1% đối với các kỳ hạn trên 6 tháng, nhằm mục tiêu lớn nhất là giảm lãi suất cho vay thực tế, qua đó, hỗ trợ Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 và người dân trong bối cảnh kinh tế vĩ mô thế giới còn nhiều rủi ro khó đo lường.

Cùng với đó, Ngân hàng KL99 đăng nhập sẽ điều hành nghiệp vụ thị trường mở một cách linh hoạt trên kênh liên ngân hàng và bám sát mục tiêu chính sách tiền tệ, đồng thời, chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ như: hoán đổi ngoại tệ, tái cấp vốn để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay.

Cơ quan điều hành cũng tiếp tục duy trì thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cho toàn hệ thống, ưu tiên phục vụ mở rộng hoạt động sản xuất KL99 com tặng +199k, đồng thời điều hành hạn mức tín dụng theo hướng linh hoạt, có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm đối với từng tổ chức tín dụng tùy theo tình hình thực tế.

Cùng với đó là định hướng xem xét nới lỏng một số quy định tại Thông tư số 26/2022/TT-NHNN, đặc biệt là việc cho phép tính tiền gửi Kho bạc nhà nước vào tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi và loại trừ vốn vay liên ngân hàng ngắn hạn khỏi mẫu số khi tính tỷ lệ này./.

Thanh khoản là “nút thắt”, hạ lãi suất phải dè chừng áp lực tỷ giá, lạm phát

Theo nhóm phân tích ACBS, để hạ nhiệt mặt bằng lãi suất lâu dài, việc quan trọng vẫn là bù đắp được nhu cầu thanh khoản thực tế của hệ thống, cũng như giải quyết bài toán về các chỉ số an toàn thanh khoản.

Nhóm phân tích cũng lưu ý, việc mở rộng cung tiền và giảm lãi suất cũng tạo ra áp lực nhất định lên tỷ giá và lạm phát. Trong ba tháng đầu năm, mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao so với USD, cùng với nguồn kiều hối dồi dào đã góp phần cân bằng tỷ giá trong bối cảnh nhập siêu khoảng 3,64 USD từ đầu năm. Tuy nhiên, tỷ giá vẫn là rủi ro cần lưu ý, do lộ trình cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục đối mặt với thách thức từ lạm phát chi phí đẩy như: thuế quan và Kl99ok Cá Cược Bóng Đá neo cao, khiến dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ trong nước không còn nhiều. Đồng thời, Kl99ok Cá Cược Bóng Đá duy trì ở mức cao cũng làm gia tăng rủi ro lạm phát nếu đi cùng với việc mở rộng cung tiền nhanh trong thời gian ngắn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80