Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng KL99 đăng nhập tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
aa
"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Kl 99 vòng chung kết liên ngân hàng “lao dốc” - tín hiệu giảm sức ép thanh khoản

Diễn biến nổi bật trong tuần từ ngày 13 - 17/4 là việc Ngân hàng KL99 đăng nhập duy trì trạng thái hút ròng thanh khoản trên kênh thị trường mở (OMO).

NHNN hút ròng mạnh trên 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu về dưới 4%
Ảnh minh họa.

Tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO chỉ đạt 56.859,26 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm.

Tổng giá trị hút ròng trong tuần từ ngày 13 - 17/4 lên tới khoảng 72.486,19 tỷ đồng, cao hơn mức hút ròng khoảng 66.000 tỷ đồng của tuần trước đó, cho thấy xu hướng thắt chặt vẫn được duy trì, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và ổn định mặt bằng lãi suất trong bối cảnh các yếu tố bên ngoài còn nhiều biến động.

Khối lượng phát hành giảm mạnh qua các phiên, từ mức rất cao 33.701 tỷ đồng ngày 13/4 xuống còn 3.077 tỷ đồng vào phiên cuối tuần - ngày 17/4. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn duy trì ở mức lớn, đặc biệt các phiên đầu tuần ghi nhận lượng đáo hạn từ 32.000 - 41.345 tỷ đồng, khiến dòng tiền rút ra khỏi hệ thống chiếm ưu thế.

Trong tuần 13 - 17/4, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận xu hướng giảm mạnh trên toàn bộ các kỳ hạn, phản ánh thanh khoản hệ thống dần cải thiện sau giai đoạn căng thẳng trước đó. Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm sâu 2,06 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, xuống còn khoảng 3,88%; kỳ hạn 1 tuần giảm 1,8 điểm phần trăm, còn 4,69%; kỳ hạn 2 tuần giảm 1,44 điểm phần trăm, xuống 5,12%.

Kỳ hạn 1 tháng giảm 1,1 điểm phần trăm, còn 6,46%; trong khi kỳ hạn 3 tháng giảm nhẹ hơn 0,25 điểm phần trăm, xuống 7,58%. Diễn biến này cho thấy, mặt bằng lãi suất ngắn hạn hạ nhiệt nhanh hơn so với kỳ hạn dài.

Song song với đó, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng cũng sụt giảm đáng kể, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn. Doanh số qua đêm giảm mạnh 57.014 tỷ đồng so với tuần trước, xuống quanh 730.495 tỷ đồng.

Theo đánh giá của Công ty TNHH Kl99com link không chặn Yuanta Việt Nam (Kl99com link không chặn Yuanta), áp lực thanh khoản tạm thời hạ nhiệt sau giai đoạn kết thúc quý, tuy nhiên, các kỳ hạn 1 - 3 tháng còn neo ở mức cao, do nguồn cân đối vốn trung hạn chưa được giải quyết hoàn toàn và xu hướng giảm lãi suất huy động mới chỉ ở giai đoạn đầu sau chỉ đạo từ Ngân hàng KL99 đăng nhập.

"Dù lãi suất đã bắt đầu giảm, nhưng chúng tôi cho rằng khó có thể trở về mức giữa năm 2025, nhất là trong bối cảnh nhu cầu vốn lớn nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao và tăng trưởng tín dụng 3 tháng năm 2026 cao hơn nhiều so với tăng trưởng huy động vốn" - Kl99com link không chặn Yuanta nhìn nhận.

Còn theo Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính - nhóm Ngân hàng Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 và định chế tài chính (Ngân hàng Techcombank), Ngân hàng KL99 đăng nhập vẫn còn dư địa để tiếp tục ổn định và từng bước hạ mặt bằng lãi suất trong thời gian tới, thông qua các công cụ điều tiết như nghiệp vụ OMO, các giao dịch hoán đổi ngoại tệ (swap), cũng như các chương trình tái cấp vốn có mục tiêu.

Tuy nhiên, một số rủi ro tiềm ẩn vẫn cần được theo dõi chặt chẽ do có thể tạo áp lực trở lại lên mặt bằng lãi suất, liên quan đến áp lực lên tỷ giá USD/VND, rủi ro lạm phát tăng cao và tốc độ tăng trưởng tiền gửi có thể chậm lại.

Tỷ giá USD tự do giảm mạnh 200 đồng, DXY mất mốc 98 điểm

Ngày 17/4, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng KL99 đăng nhập công bố là 25.102 VND/USD, giữ nguyên so với phiên trước đó. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay được phép dao động trong khoảng 23.847 - 26.357 VND/USD.

Tiếp tục xu hướng biến động hẹp, tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng KL99 đăng nhập công bố giảm 3 đồng, xuống 25.102 VND/USD, cho thấy cơ quan điều hành duy trì trạng thái ổn định. Tương tự, tỷ giá USD tại cả Vietcombank và BIDV cùng giảm 3 đồng ở cả hai chiều mua vào - bán ra so với cuối tuần trước, hiện phổ biến quanh 26.127 - 26.357 VND/USD.

Đáng chú ý, thị trường tự do biến động mạnh hơn khi tỷ giá bán ra giảm tới 200 đồng trong tuần, nâng tổng cộng mức giảm 3 tuần liên tiếp lên 1.300 đồng, xuống 26.600 - 26.630 VND/USD; trong đó, riêng phiên ngày 16/4 ghi nhận mức giảm sâu 280 đồng.

NHNN hút ròng mạnh trên 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu về dưới 4%

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - đã mất mốc 98 điểm, xuống còn 97,89 điểm, cho thấy đồng USD tiếp tục suy yếu so với rổ tiền tệ chủ chốt. Diễn biến này phản ánh tâm lý thị trường bớt thận trọng hơn, khi nhu cầu nắm giữ USD giảm trong bối cảnh các yếu tố rủi ro toàn cầu phần nào dịu lại.

Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết, một lệnh ngừng bắn kéo dài 10 ngày giữa Israel và Lebanon đã được thiết lập sau các cuộc gặp tại Washington, đồng thời để ngỏ khả năng mời lãnh đạo hai nước tới Nhà Trắng nhằm thúc đẩy đàm phán. Thỏa thuận này, nếu tiếp tục được duy trì, đang góp phần làm dịu căng thẳng tại Trung Đông.

"Xu hướng của đồng USD sắp tới vẫn rất khó đoán do sự giằng co của hai luồng yếu tố. Một mặt, DXY có thể giảm nếu các ngân hàng trung ương lớn khác tăng lãi suất. Mặt khác, USD vẫn là "hầm trú ẩn" an toàn và Mỹ hiện là quốc gia xuất khẩu dầu ròng nên có thể hưởng lợi khi giá năng lượng leo thang" - Bộ phận Phân tích, Ngân hàng Techcombank đánh giá.

Còn theo Bộ phận Phân tích, Ngân hàng Techcombank, xung đột Trung Đông đang thúc đẩy xu hướng "phi USD hóa" khi Iran và Trung Quốc tận dụng chiến sự để đẩy mạnh thanh toán bằng nhân dân tệ (CNY) tại eo biển Hormuz.

Dù CNY hiện chỉ chiếm 2% dự trữ ngoại hối và 3,7% giao dịch xuyên biên giới, những động thái này đang tạo ra sự "xói mòn dần dần", đe dọa vị thế thống trị của đồng bạc xanh trong dài hạn do làm giảm nhu cầu nắm giữ USD cho mục đích mua dầu.

Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị toàn cầu có xu hướng gia tăng, Bộ phận Phân tích, Ngân hàng Techcombank giữ nguyên dự báo tỷ giá USD/VND trong cả năm sẽ tăng trung bình khoảng 2 - 2,5%.

Trong khi đó, nhận định về sức mạnh đồng USD, Kl99com link không chặn Yuanta Việt Nam lại cho rằng, động lực chính đến từ việc tâm lý rủi ro toàn cầu cải thiện sau thông tin về thỏa thuận ngừng bắn tạm thời tại Trung Đông khiến nhu cầu trú ẩn vào USD suy giảm, bất chấp tín hiệu từ biên bản họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tháng 3/2026 cho thấy Fed ngày càng lo ngại rủi ro lạm phát quay trở lại và thị trường đang kỳ vọng Fed sẽ không có lần giảm lãi suất nào trong năm 2026.

Trong khi đó, các đồng tiền như EUR, GBP, AUD và NZD hồi phục nhờ khẩu vị rủi ro cải thiện. Cùng lúc, đồng CNY được hỗ trợ bởi tín hiệu giá xuất xưởng (PPI) tăng trở lại sau chuỗi giảm 3 năm và sức chống chịu của kinh tế Trung Quốc, còn JPY vẫn tương đối yếu do lãi suất Nhật Bản thấp và áp lực M.Kl99.love Hoàn Trả Vô Tận năng lượng còn lớn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80