Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
aa

Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Dự kiến tín dụng tăng tới 20%, Ngân hàng KL99 đăng nhập lưu ý kiểm soát chất lượng nợ vay

Nợ nhóm 5 tăng 12,7%, nhiều ngân hàng “lội ngược dòng” kéo giảm nợ xấu

Bức tranh nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) của 27 ngân hàng niêm yết cuối quý I/2026 cho thấy áp lực nợ khó thu hồi vẫn ở mức cao, dù nhiều nhà băng đã ghi nhận xu hướng cải thiện rõ rệt.

Theo đó, tổng quy mô nợ xấu nhóm 5 đạt khoảng 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 nhóm khảo sát. So với cuối năm 2025, nợ nhóm 5 chỉ tăng nhẹ 0,3%, trong khi tăng 12,7% so với cùng kỳ quý I/2025.

“Ngược dòng” xu hướng tăng toàn ngành, có 12/27 nhà băng trong nhóm khảo sát đã ghi nhận xu hướng suy giảm nợ có khả năng mất vốn, cho thấy nỗ lực đẩy mạnh xử lý nợ xấu và thu hồi Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp bảo đảm tại nhiều ngân hàng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Xét về quy mô tuyệt đối, Sacombank đang dẫn đầu hệ thống với 30.546,7 tỷ đồng nợ nhóm 5, tăng 2,1% so với cuối năm 2025, nhưng tăng tới 206,7% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nợ có khả năng mất vốn chiếm tới 73,6% tổng nợ xấu của ngân hàng này, cho thấy phần lớn nợ xấu đã chuyển sang nhóm khó thu hồi nhất.

8 ngân hàng kéo giảm nợ nhóm 5 sau một quý

Điểm tích cực là có 8 nhà băng chứng kiến sự cải thiện nợ xấu khá rõ nét trong quý đầu năm. Theo đó, so với cuối năm 2025, VietinBank là trường hợp nổi bật nhất khi nợ nhóm 5 giảm 40%; Vietcombank giảm 4,3%; VIB giảm 3,9%; Eximbank giảm 3,4%; ACB giảm 2,9%; PGBank giảm 1,9%; Techcombank giảm 0,5%.

Thông tin từ Sacombank cho thấy, năm 2025, ngân hàng đã đẩy mạnh thu hồi, xử lý hơn 17.000 tỷ đồng nợ xấu và Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp tồn đọng, đóng góp hơn 10.700 tỷ đồng vào lợi nhuận, tạo điều kiện để tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.

Liên quan đến tiến trình triển khai đề án tái cơ cấu, thời gian qua, ban lãnh đạo ngân hàng đã quyết liệt đấu giá các Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp tồn đọng, thu hồi nợ ngoại bảng và xử lý dứt điểm trái phiếu tại Công ty Quản lý Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Mỗi đồng nợ xấu được thu hồi không chỉ làm sạch bảng cân đối, mà còn trực tiếp đưa dòng tiền tươi cho các hoạt động đầu tư mới, hoàn nhập và gia tăng lợi nhuận.

Tính đến cuối năm 2025, Sacombank đã giảm 86,2% nợ xấu và Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp tồn đọng (81.928 tỷ đồng), nhờ đó giảm tỷ trọng trong tổng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp từ 28,1% xuống còn 1,4%. Đồng thời, hoàn tất thu hồi toàn bộ khoản nợ liên quan đến Khu công nghiệp Phong Phú.

Trong giai đoạn cuối của quá trình tái cơ cấu, quy mô Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp và huy động Sacombank tăng trưởng khá mạnh, nhưng việc đẩy mạnh trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu tồn đọng đã ảnh hưởng đến lợi nhuận tổng thể của ngân hàng năm vừa qua.

Sau Sacombank, BIDV đứng thứ hai với 27.539,7 tỷ đồng, tăng 6,6% so với cuối năm 2025 nhưng giảm 1,4% so với cùng kỳ; tỷ lệ nợ nhóm 5 trong tổng nợ xấu ở mức 64,6%.

So sánh với cùng kỳ quý I/2025, bức tranh chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp của hệ thống ngân hàng cho thấy 12/27 ngân hàng “lội ngược dòng”, ghi nhận nợ có khả năng mất vốn giảm so với cùng kỳ năm trước.

Trong số đó, nhiều ngân hàng giảm rất mạnh như: ABBank là ngân hàng cải thiện mạnh nhất khi nợ nhóm 5 giảm tới 72,8% so với cùng kỳ năm trước. VietinBank giảm 25,9%; ACB giảm 24,4%; KienlongBank giảm 22,8%; NCB giảm 22,6%; Vietcombank giảm 21,2%.

Ngoài ra, PGBank giảm 12,7%; NamABank giảm 11,9%; VIB giảm 9,9%; BIDV giảm 1,4%; Eximbank giảm nhẹ 0,5%. Diễn biến này cho thấy nhiều ngân hàng đã đẩy mạnh xử lý nợ xấu, thu hồi Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp bảo đảm và kiểm soát tốt hơn chất lượng tín dụng so với cùng kỳ năm trước.

Nợ có khả năng mất vốn chiếm áp đảo tại nhiều ngân hàng

Tuy nhiên, tỷ trọng nợ nhóm 5 trong tổng nợ xấu tại nhiều ngân hàng vẫn ở mức rất cao, có ngân hàng chiếm đến 95% tổng nợ xấu, tức gần như toàn bộ nợ xấu đã rơi vào nhóm có khả năng mất vốn. Tỷ trọng cao phản ánh phần lớn nợ xấu tại các ngân hàng này đã chuyển sang giai đoạn khó thu hồi, kéo theo áp lực lớn về trích lập dự phòng rủi ro.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng có tỷ lệ nợ nhóm 5 trong tổng nợ xấu thấp hơn đáng kể như: VPBank 29,3%; PGBank 33,6%... Điều này cho thấy cơ cấu nợ xấu của các ngân hàng này vẫn còn tỷ trọng lớn ở nhóm nợ dưới tiêu chuẩn hoặc nghi ngờ, chưa chuyển mạnh sang nhóm mất vốn.

Nợ xấu có khả năng mất vốn lao dốc 36,5%, phần lớn nhà băng cải thiện chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp
Nợ xấu nhóm 5 lao dốc xuống gần 170.000 tỷ đồng, áp lực vơi bớt tại nhiều ngân hàng. Ảnh minh họa.

Nợ xấu nhóm 5 là nhóm nợ có khả năng mất vốn cao nhất trong hệ thống phân loại nợ của ngân hàng, thường bao gồm khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên; hoặc khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra trên 60 ngày mà chưa thu hồi được...

Khi khách hàng bị xếp vào nợ xấu nhóm 5, ngân hàng buộc phải tăng mạnh trích lập dự phòng rủi ro để bù đắp nguy cơ không thu hồi được khoản vay. Việc phải dành nguồn lực lớn cho dự phòng khiến lợi nhuận ngân hàng bị ảnh hưởng trực tiếp, bởi chi phí dự phòng càng cao thì lợi nhuận càng bị thu hẹp tương ứng.

Do đó, các ngân hàng thường rất thận trọng và hầu như không chấp nhận cấp tín dụng đối với khách hàng đang thuộc nhóm nợ xấu nhóm 5.

Thông tin nợ xấu của khách vay được lưu trữ trên hệ thống của Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) trong thời hạn tối đa 5 năm kể từ ngày kết thúc thông tin nợ xấu. Do đó, nếu khách hàng thuộc nợ xấu nhóm 5, sau thời hạn bị lưu trữ thông tin về nợ xấu trên CIC, khi đã được xoá thông tin nợ xấu thì sẽ được xem xét, quyết định cho vay căn cứ vào điều kiện, chính sách của từng ngân hàng sau khi ngân hàng kiểm tra thông tin tín dụng./.

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết nhiều quốc gia đã áp dụng các biện pháp mạnh đối với trường hợp nợ xấu và cố tình chây ì nghĩa vụ trả nợ như hạn chế xuất cảnh, hạn chế đi máy bay… Do đó, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam kiến nghị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với các trường hợp thuộc nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn cao, nhằm tăng tính ràng buộc trách nhiệm và thúc đẩy khách hàng tập trung xử lý nghĩa vụ nợ với ngân hàng./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80