Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tổng nợ xấu của 27 ngân hàng niêm yết năm 2025 tăng 14,1%, lên gần 262.491 tỷ đồng, trong đó, nợ có khả năng mất vốn chiếm 63,5%. Dù bức tranh chung còn nhiều áp lực, vẫn xuất hiện điểm sáng khi 7 ngân hàng “ngược dòng” kéo giảm quy mô nợ xấu, nhiều nhà băng vẫn duy trì kỷ luật tín dụng và chủ động tăng trích lập dự phòng, chấp nhận ảnh hưởng lợi nhuận ngắn hạn.
aa

Nợ xấu chững lại cuối năm, 7 ngân hàng “ngược dòng” kéo giảm

Dựa trên khảo sát số liệu của 27 ngân hàng niêm yết, quy mô nợ xấu nhóm 3 - 5 năm 2025 tiếp tục tăng cho thấy áp lực lên chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp của hệ thống vẫn đáng chú ý. Tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 các ngân hàng trong diện khảo sát đạt gần 262.491 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ, tương ứng tăng thêm gần 32.445 tỷ đồng.

Trong đó, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) đạt 166.706,6 tỷ đồng, tăng 25,9% và tỷ trọng tăng lên 63,5%. Đáng chú ý, cấu trúc nợ xấu vẫn tập trung ở nhóm nợ có khả năng mất vốn, với tỷ trọng trên 70 - 90% tại một số ngân hàng. Điều này cho thấy mức độ suy giảm chất lượng tín dụng tại một số ngân hàng vẫn chưa được cải thiện rõ rệt, nhóm nợ rủi ro nhất tiếp tục phình to.

Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Xét về quy mô nợ xấu, Sacombank đứng đầu, với gần 40.137 tỷ đồng, tăng mạnh 209,8% so với cùng kỳ. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn đạt hơn 29.906 tỷ đồng, chiếm 74,5% tổng nợ xấu và tương đương 6,4% dư nợ cho vay khách hàng - đây là mức khá cao so với mặt bằng chung. Tuy nhiên, ngân hàng cũng chủ động trích lập dự phòng rủi ro tín dụng lên mức kỷ lục.

Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, thực tế, nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh, nhưng chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp lại không tương xứng.

"Nợ xấu gia tăng cũng tạo áp lực lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng, bởi dòng tiền không quay vòng được mà bị 'kẹt' lại trong các khoản nợ xấu" - ông Linh nhấn mạnh.

Quản trị rủi ro chưa trở thành “DNA”, nợ xấu khó tránh xu hướng tăng

"Nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng cao, nhưng chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp không tương xứng. Nguyên nhân nằm ở nền móng quản trị rủi ro tín dụng một cách chủ động vẫn chưa được xây dựng vững chắc. Nền tảng quản trị theo chuẩn Basel II, hướng tới Basel III, tức là kiểm soát rủi ro và biến quản trị rủi ro thành “DNA” trong hoạt động ngân hàng, vẫn chưa được thực hiện tốt ở phần lớn tổ chức tín dụng, chỉ một vài ngân hàng làm được điều này. Vì vậy, nợ xấu có xu hướng gia tăng".

TS. Châu Đình Linh

Dù vậy, theo vị chuyên gia này, thực tế cho thấy, một số ngân hàng đã phản ứng bằng cách tăng mạnh trích lập dự phòng, chẳng hạn như Sacombank hay ACB, nhằm nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu. Điều này có thể khiến tăng trưởng lợi nhuận ngắn hạn chậm lại, nhưng lại giúp củng cố nền tảng tài chính.

Bên cạnh 20/27 ngân hàng tăng nợ xấu, dữ liệu cho thấy một số ngân hàng niêm yết ghi nhận xu hướng giảm quy mô nợ xấu trong năm 2025. Đơn cử, tại ABBank, quy mô nợ xấu nhóm 3 - 5 năm 2025 đạt hơn 997 tỷ đồng, giảm mạnh 73% cùng kỳ. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) ở mức 569,1 tỷ đồng, giảm 73%, chiếm 57,1% tổng nợ xấu. Đối với NCB, tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 đạt hơn 8.417 tỷ đồng, giảm 39,5%.

Ngân hàng ACB ghi nhận 6.671,4 tỷ đồng nợ xấu nhóm 3 - 5, giảm 22,9% cùng kỳ. Nợ nhóm 5 của ngân hàng đạt 5.136,4 tỷ đồng, giảm 23,9%, chiếm 77% tổng nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm của ACB được kiểm soát ở mức 0,97%, thấp nhất kể từ năm 2023, qua đó, giúp ngân hàng nằm trong nhóm có chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp tốt nhất hệ thống, trong bối cảnh rủi ro toàn ngành có xu hướng gia tăng.

Dữ liệu tổng hợp cũng cho thấy, quy mô nợ xấu của các ngân hàng trong năm 2025 có xu hướng tăng mạnh trong ba quý đầu năm trước khi hạ nhiệt vào cuối năm. Cụ thể, tổng nợ xấu từ mức 230.046,4 tỷ đồng vào quý IV/2024 đã tăng thêm lần lượt 15,4%; 16,8% và 19,1% vào ba quý đầu năm. Tuy nhiên, đến quý IV/2025, nợ xấu đã có dấu hiệu giảm nhẹ xuống 262.490,9 tỷ đồng, dù vẫn cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước, với mức tăng 14,1%.

Nhiều ngân hàng giữ nợ xấu quanh 1%, duy trì kỷ luật tín dụng

Là một ngân hàng có quy mô lớn trong hệ thống, quy mô nợ xấu của VietinBank trong năm qua chỉ tăng nhẹ khoảng 3%. Tại hội nghị cập nhật kết quả KL99 com tặng +199k mới đây, bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cho biết chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng đã giảm xuống còn khoảng 17.000 tỷ đồng, giảm 37% so với cùng kỳ năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng cũng được kiểm soát ở mức tốt, khoảng 1,1% và giảm so với năm 2024, nhờ kiểm soát tốt chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp; tỷ lệ bao phủ nợ xấu hiện đạt gần 160%.

Bà Hoài cho biết, trong năm 2025, công tác xử lý và thu hồi nợ của VietinBank tiếp tục được đẩy mạnh. Kết quả thu hồi nợ đã xử lý rủi ro đạt khoảng 10.000 tỷ đồng, đây là mức cao nhất trong nhiều năm qua và tăng 18% so với năm 2024. "Việc xử lý nợ thông thường cần thời gian rất dài, đặc biệt là đối với những khoản vay cho những khách hàng Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lớn" - đại diện VietinBank bày tỏ.

MB là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng cao nhất toàn ngành trong năm qua, song vẫn duy trì kiểm soát tốt chất lượng nợ. Theo bà Phạm Thị Trung Hà - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Rủi ro MB, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng trong năm qua đạt khoảng 37%, trong khi nợ xấu chỉ tăng khoảng 11%. Nhờ đó, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức khoảng 1% trước khi tính các khoản liên đới theo Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia (CIC).

Ngoài ra, tương tự một số ngân hàng sở hữu công ty tài chính tiêu dùng, công ty con Mcredit do đặc thù hoạt động nên có tỷ lệ nợ xấu cao hơn so với ngân hàng mẹ.

Liên quan đến việc kiểm soát nợ xấu và tỷ lệ bao phủ nợ xấu, năm 2025, tỷ lệ bao phủ nợ xấu trước CIC của MB khoảng 110%, như vậy, MB đã kiểm soát chất lượng tín dụng trong năm 2025 khá tốt.

"Năm 2026, ngân hàng đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 1%, còn toàn tập đoàn ở mức 1,3%. Để đảm bảo vẫn khẩu vị rủi ro tương đối chặt chẽ, đảm bảo tỷ lệ bao phủ nợ xấu 100%, ngân hàng sẽ áp dụng các biện pháp xử lý nợ xấu, cũng như các giải pháp kiểm soát ngay từ đầu, từ lúc cấp, giải ngân, cũng như quản lý khoản vay, thu hồi nợ. Tất cả các khâu trong quy trình cấp tín dụng sẽ được tăng cường các biện pháp kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo khi nếu có nợ phát sinh xử lý ngay từ đầu" - đại diện MB nhấn mạnh.

Đây là chỉ tiêu được đánh giá là khá thách thức, tuy nhiên, đại diện MB cho rằng, khi tăng trưởng cao mà vẫn kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, qua đó, đảm bảo sự phát triển bền vững dài hạn./.

Dự phòng chỉ tăng 5,8%, tỷ lệ bao phủ tiếp tục thu hẹp

Thống kê cũng cho thấy, dù nợ xấu gia tăng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của nhóm ngân hàng niêm yết năm 2025 chỉ tăng 5,8%, đạt khoảng 218.750 tỷ đồng. Điều này khiến tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục suy giảm và thu hẹp so với năm 2024.

Theo TS. Châu Đình Linh, tại các ngân hàng, vấn đề nợ xấu và chất lượng tăng trưởng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp cần được quan tâm nhiều hơn. Còn Ngân hàng KL99 đăng nhập cần tiếp tục đẩy mạnh việc thực thi các quy định liên quan và theo dõi chặt chẽ tỷ lệ bao phủ nợ xấu, ngân hàng nào để tỷ lệ này suy giảm cần được cảnh báo kịp thời.

Bên cạnh đó, các ngân hàng cần tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai Basel II trên toàn hệ thống và từng bước tiến tới Basel III, với nền móng phải được xây dựng thật chắc.

"Tăng trưởng tín dụng cao khó tránh khỏi áp lực lên nợ xấu. Hơn nữa, trong bối cảnh năm 2025 xuất hiện nhiều biến động như thiên tai, bão lũ hay những thay đổi trong chính sách KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay của Mỹ, rủi ro nợ xấu gia tăng là điều có thể xảy ra. Khi lãi suất tăng nhanh, điều đó cũng phát đi tín hiệu rằng nợ xấu có thể đang hình thành áp lực mới và cần được theo dõi sát sao" - ông Linh nhấn mạnh.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80