-->

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
aa

Một số ngân hàng duy trì xu hướng cải thiện chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp

Theo thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết, trong đó ABBank mới công bố báo cáo riêng lẻ, tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 đến cuối quý I/2026 đạt khoảng 292.159 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cuối năm 2025, tương ứng tăng thêm hơn 28.000 tỷ đồng và cao hơn nhiều so với mức tăng cho vay khách hàng (3,6%).

Đáng chú ý, số ngân hàng ghi nhận nợ xấu gia tăng chiếm áp đảo, với 23/27 ngân hàng. Nhiều nơi ghi nhận nợ xấu tăng hai chữ số, thậm chí có nhà băng tăng trên 60% nợ xấu chỉ sau 1 quý, phản ánh áp lực chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp của hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao trong những tháng đầu năm.

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”
Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trong quý I/2026 đạt 233.095,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm 2025. Ảnh: An Thư

Đi ngược xu hướng nợ xấu gia tăng của toàn ngành, có 3 ngân hàng ghi nhận nợ xấu giảm ngay trong quý đầu năm 2026 và 10 nhà băng giảm quy mô nợ xấu so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ABBank giảm mạnh nhất tới 74,2%; tiếp theo là Vietcombank giảm 27,7%; VietinBank giảm 26,4%; NCB giảm 22,7%; ACB giảm 22,5% và NamABank giảm 17,4%...

Đáng chú ý, ABBank, VietinBank và NamABank là những trường hợp hiếm hoi duy trì được xu hướng cải thiện chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp so với cùng kỳ và thu hẹp nợ xấu so với cuối năm 2025. Quy mô nợ xấu của 3 ngân hàng này lần lượt còn 963 tỷ đồng (giảm 14,3%), 20.598 tỷ đồng (giảm 6%) và 3.653 tỷ đồng (giảm 3,5%).

Cùng với xu hướng kéo giảm nợ xấu, 3 ngân hàng trên cũng thu hẹp mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, qua đó, tạo dư địa cải thiện lợi nhuận.

Cụ thể, ABBank ghi nhận chi phí dự phòng rủi ro cho vay khách hàng ở mức 1.180 tỷ đồng, giảm mạnh 31,1% so với quý I/2025. Trong bối cảnh nợ xấu giảm 74,2% so với cùng kỳ, áp lực trích lập dự phòng cũng hạ nhiệt đáng kể.

Tương tự, NamABank giảm chi phí dự phòng xuống còn khoảng 2.062 tỷ đồng, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này đồng pha với xu hướng nợ xấu giảm 17,4%, phản ánh chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp được cải thiện.

Tại VietinBank, chi phí dự phòng rủi ro cho vay khách hàng còn khoảng 34.436 tỷ đồng, giảm 1,1% so với cuối năm 2025 và giảm 10% so với cùng kỳ. Trong khi đó, nợ xấu của ngân hàng này cũng giảm 6% so với cuối năm và giảm 26,4% so với quý I/2025.

Nỗ lực giữ nợ xấu ở nhóm thấp, tăng tốc thu hồi nợ đọng

Tỷ lệ nợ xấu năm 2025 của ABBank đạt 0,5%, kéo giảm mạnh từ mức 2,48% của năm 2024, thấp hơn đáng kể so với mức quy định của Ngân hàng KL99 đăng nhập và thuộc nhóm thấp nhất toàn ngành. Mục tiêu năm 2026 của ngân hàng này là tiếp tục kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.

Tại Đại hội đồng cổ đông, Tổng Giám đốc ABBank Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, đây là mục tiêu sống còn của ngân hàng. Về tư duy xử lý nợ xấu, ông Hùng chia sẻ, cổ đông lớn Maybank (Malaysia) từng nhấn mạnh, xử lý nợ xấu phải dựa trên tinh thần đồng hành và đồng cảm với khó khăn của khách hàng. Nếu khách hàng tốt, nhưng gặp khó khăn do yếu tố khách quan, thì ngân hàng cần chia sẻ, trên cơ sở tuân thủ đúng quy định M.kl99.love khuyến mãi hấp dẫn. Khi đó, khách hàng tốt lên thì ngân hàng cũng tốt lên.

“Năm 2026, xử lý nợ xấu vẫn là nhiệm vụ trọng tâm và chúng tôi vẫn ưu tiên toàn bộ nguồn lực” - Tổng Giám đốc ABBank khẳng định.

Chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp của ACB cũng thuộc nhóm tốt hàng đầu ngành, với tỷ lệ nợ xấu ở mức 0,97%. Ngân hàng này cũng chủ động tăng cường trích lập dự phòng để nâng khả năng chống chịu rủi ro cho năm 2026.

Ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho biết, thời gian qua, ngân hàng có bước đi mạnh mẽ trong kiểm soát tăng trưởng tín dụng. Đặt mục tiêu phát triển bền vững lên hàng đầu, nên nhiều năm qua, ACB không chạy theo tăng trưởng tín dụng quá cao như một số ngân hàng lớn, song vẫn duy trì tốc độ tăng cao hơn bình quân toàn hệ thống. Ngân hàng cũng giữ tỷ lệ nợ xấu thấp, để đảm bảo an toàn trong trung dài hạn.

Trích lập dự phòng lớn để phòng vệ trước biến động thị trường

“Trước mắt, chúng tôi vẫn sẽ duy trì mức trích lập dự phòng cao, nhằm tuân thủ chiến lược quản trị rủi ro thận trọng và gia tăng nguồn lực đảm bảo an toàn tài chính và giúp ngân hàng chủ động phòng vệ trước những biến động khó kiểm soát của thị trường. Bên cạnh việc tăng cường trích lập dự phòng, ngân hàng cũng sẽ tập trung nâng cao chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp. Khi chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp được cải thiện tốt hơn, chúng ta có thể tự tin giảm dần mức trích lập dự phòng. Khi đó, ngân hàng sẽ lạc quan hơn về khả năng tăng trưởng lợi nhuận”.

Ông Phan Trọng Tuệ - Thành viên Hội đồng Quản trị Sacombank

Tại Sacombank, tỷ lệ nợ xấu nội bảng năm 2024 được kiểm soát tốt ở mức 2,08%. Sau khi tăng lên trên 5% trong năm 2025, ngân hàng đặt mục tiêu kéo tỷ lệ này giảm xuống dưới 4,5% trong năm 2026, nhờ đẩy mạnh xử lý tồn đọng và nâng cao chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp.

Lý giải nguyên nhân nợ xấu tăng mạnh trong năm 2025, ông Phan Trọng Tuệ - Thành viên Hội đồng Quản trị Sacombank cho biết, việc Mỹ công bố các chính sách thuế đối ứng mới với các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trong nước cũng như các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99, trong đó có khách hàng của Sacombank. Đặc biệt, nhóm khách hàng vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn, thách thức, hoạt động sản xuất, KL99 com tặng +199k có dấu hiệu suy giảm nên phát sinh nợ quá hạn.

“Quá trình xử lý các khoản nợ xấu và nợ quá hạn cũng có những vấn đề khó khăn, vướng mắc liên quan đến pháp lý, nên thời gian xử lý kéo dài. Chúng tôi muốn giảm tỷ lệ nợ xấu xuống nhanh, nhưng nhiều khi cũng không được theo ý muốn. Mặt khác, khối lượng hồ sơ cũng còn rất lớn” - lãnh đạo Sacombank bày tỏ.

Về khả năng thu hồi nợ, đại diện Sacombank cho biết, phần lớn các khoản nợ xấu của ngân hàng đều có Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp bảo đảm và theo đánh giá, giá trị Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp đủ để bù đắp nghĩa vụ nợ của khách hàng. Do đó, khả năng thu hồi vốn được đánh giá ở mức cao. Tuy nhiên, tiến độ xử lý còn phụ thuộc vào diễn biến thị trường, bởi phần lớn Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp bảo đảm hiện nay là bất động sản.

Mạnh tay trích lập dự phòng, nâng sức chống chịu rủi ro

Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trong quý I/2026 đạt 233.095,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm 2025, song vẫn thấp hơn tốc độ tăng của nợ xấu trong cùng kỳ là 10,6%. Đáng chú ý, nhiều ngân hàng đã chủ động gia tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong quý I nhằm củng cố bộ đệm tài chính, nâng cao khả năng chống chịu trước rủi ro nợ xấu gia tăng và cải thiện chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp.

Theo đó, Sacombank là ngân hàng có mức tăng mạnh nhất so với cùng kỳ khi chi phí dự phòng đạt 22.082,1 tỷ đồng, tăng tới 109%. Tiếp theo là OCB với mức dự phòng 4.000,3 tỷ đồng, tăng 66,9%; HDBank đạt 7.817,6 tỷ đồng, tăng 38,7%. Một số nhà băng cũng tăng dự phòng khá cao như: VietABank tăng 33,2% lên 1.072,7 tỷ đồng, MB tăng 33,1% lên 14.710,3 tỷ đồng.

Xét về tỷ lệ bao phủ nợ xấu, chỉ tiêu phản ánh khả năng dùng dự phòng rủi ro để bù đắp và xử lý các khoản nợ xấu, đến cuối quý I/2026 có 5 ngân hàng duy trì tỷ lệ trên 100%. Trong đó, Vietcombank tiếp tục dẫn đầu với tỷ lệ 253,4%, tiếp theo là VietinBank đạt 167,2%. Techcombank, ABBank và ACB cũng nằm trong nhóm có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao, cho thấy sự chủ động củng cố bộ đệm rủi ro tín dụng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Kl99ok nhận ưu đãi bất ngờ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng Kl99com nhà cái bóng đá world cup KL99 com tặng +199k bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. M.Kl99.love code khuyến mãi dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất M.Kl99.love Hoàn Trả Vô Tận Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 chủ động cơ cấu danh mục Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,270 ▼610K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17911 18185 18764
CAD 18364 18640 19260
CHF 32310 32693 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29785 30007 31088
GBP 34458 34850 35783
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14985 15573
SGD 19899 20181 20757
THB 716 779 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80