Kl 99 vòng chung kết vay mua nhà cố định lên 14%/năm, thị trường bất động sản thử “sức bền”

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất cho vay lĩnh vực bất động sản đang tăng tốc, nhiều ngân hàng “Big 4” đã đưa lãi suất vay mua nhà cố định lên quanh mức 14%/năm. Khi thời kỳ “vốn rẻ” với các gói ưu đãi lãi suất dần khép lại, tín dụng được kiểm soát theo hướng chọn lọc, khiến hoạt động đầu tư “lướt sóng” bị siết lại, thị trường trước một bài kiểm tra mới về “sức bền”.
aa
"Gạn đục, khơi trong" dòng tín dụng bất động sản “Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới Rủi ro tích tụ sau đà tăng bất động sản, yêu cầu siết kỷ luật tín dụng

"Big 4" đẩy lãi vay cố định lên 14%

Trong bối cảnh cuối năm 2025 và đầu năm 2026, lãi suất huy động tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng leo thang khi các ngân hàng vay mượn lẫn nhau “nóng” hơn bao giờ hết, mặt bằng lãi suất cho vay, đặc biệt là cho vay bất động sản, cũng đang tăng tốc rõ rệt.

Thực tế cho thấy, lãi suất cho vay đang đi lên cùng nhịp với lãi suất huy động, thậm chí nhanh hơn. Sau Tết Dương lịch, lãi suất huy động đầu vào của một số ngân hàng đã vượt mốc 8%/năm ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Áp lực này nhanh chóng truyền sang lãi suất cho vay, đặc biệt là các khoản vay đến kỳ thả nổi.

Các "ông lớn" ngân hàng như: VietinBank, Vietcombank, BIDV... đưa lãi suất cho vay bất động sản lên ngưỡng cao, có nơi lên gần 14%/năm. Trong khi đó, lãi suất cho vay phục vụ nhu cầu đời sống có Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp bảo đảm; cho vay mua ô tô; cho vay sản xuất KL99 com tặng +199k; hay trả nợ trước hạn tổ chức tín dụng khác thấp hơn đáng kể, dưới 9%/năm, song cũng đã cao hơn đáng kể so với giai đoạn trước. Thời kỳ “vốn rẻ” với các gói vay ưu đãi lãi suất, cố định kéo dài 1 - 3 năm như giai đoạn 2024 - 2025, gần như đã đi qua.

Đơn cử, trong 6 tháng đầu, có ngân hàng công bố lãi suất cho vay cố định tối thiểu 9,7%/năm; hoặc 10,1%/năm cố định 12 tháng đầu tiên; hay 13,5%/năm cố định 18 tháng đầu tiên. Trong khi đó, các khoản vay phục vụ nhu cầu đời sống, mua ô tô, sản xuất KL99 com tặng +199k hoặc trả nợ trước hạn tổ chức tín dụng khác (không nhằm mục đích bất động sản) được hưởng lãi suất thấp hơn, chỉ từ 8,2 - 9%/năm tùy thời gian cố định lãi suất.

Rõ ràng, chính sách lãi suất cho vay của nhiều ngân hàng quốc doanh cũng được thiết kế theo hướng phân tầng rất rõ theo mục đích sử dụng vốn, qua đó, thể hiện chủ trương kiểm soát tín dụng bất động sản, nhưng vẫn ưu tiên dòng vốn sản xuất KL99 com tặng +199k.

Điểm đáng chú ý, tốc độ tăng lãi suất cho vay đang vượt xa tốc độ tăng lãi suất huy động. Đơn cử, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của BIDV và Vietcombank chỉ tăng khoảng 0,5 điểm phần trăm, từ 4,7% lên 5,2%/năm, trong khi lãi suất cho vay lại điều chỉnh mạnh hơn nhiều.

lãi suất bất động sản big 4
Chính sách cho vay tại một số ngân hàng quốc doanh đầu năm 2026. Ảnh tư liệu.

Theo chia sẻ của một tư vấn đầu tư bất động sản, với diễn biến hiện nay, thị trường bất động sản đang đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là phân khúc bất động sản hình thành trong tương lai. Hiện tại, nhiều chủ đầu tư vẫn áp dụng chính sách ân hạn lãi và gốc nên áp lực tài chính chưa bộc lộ rõ, song rủi ro lớn được dự báo sẽ xuất hiện trong giai đoạn tới.

Theo người này, lãi suất vay mua bất động sản tại các ngân hàng "big 4" đang dao động 12 - 14%. Khi hết thời gian ân hạn, cộng thêm lãi suất thả nổi tạo áp lực rất nặng lên người vay. Đơn cử, chỉ cần vay 2 tỷ đồng trong 20 năm, người vay phải trả khoảng 25 - 26 triệu đồng/tháng. Nếu vay 4 - 5 đồng tỷ đồng thì con số này cao hơn nhiều. Chưa kể, thị trường đón lượng cung cực lớn, hàng trăm nghìn sản phẩm được tung ra. Nhiều khả năng từ cuối năm 2026 - 2027 sẽ xuất hiện "làn sóng" bán tháo để thoát khỏi áp lực trả nợ hàng tháng, nhất là các sản phẩm chưa tạo ra dòng tiền.

Trong bối cảnh ngân hàng siết chặt tín dụng bất động sản, còn cho vay sản xuất KL99 com tặng +199k được ưu đãi hơn với lãi suất thấp hơn, tư vấn bất động sản này nhấn mạnh hạn chế dùng đòn bẩy, hoặc chỉ vay trong khả năng kiểm soát được dòng tiền trả lãi và gốc hàng tháng.

Kl 99 vòng chung kết tăng là "phép thử" lớn, đẩy lùi đầu cơ

Trước động thái điều chỉnh tăng lãi suất cho vay bất động sản, trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, bất động sản và ngân hàng là hai lĩnh vực có mối quan hệ cộng sinh, gắn kết và ràng buộc chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, thời gian qua, bất động sản chủ yếu hướng vào các phân khúc trung cấp, cao cấp, chưa kể đến bất động sản KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay và hoạt động đầu cơ. Mục tiêu nhằm quay vòng nhanh, tạo mức sinh lời đủ cao để có thể thanh toán lại các khoản vay ngân hàng.

"Kl 99 vòng chung kết tăng nhanh sẽ khiến thanh khoản bắt đầu trục trặc. Thị trường bất động sản dần trở nên kém thanh khoản, thậm chí “đông cứng” ở một số phân khúc, khi đó, chính hệ thống ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng đáng kể. Những tác động này thể hiện ở tăng trưởng dư nợ, chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp và cả khả năng sinh lời của ngân hàng. Kl 99 vòng chung kết tăng cao có thể xem như "phép thử" lớn đối với ngành bất động sản, đồng thời cũng là phép thử đối với hệ thống ngân hàng".

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.

"Khi thanh khoản trên thị trường bất động sản có vấn đề, bắt đầu lan tỏa tác động với cả ngân hàng" - ông Linh nêu rõ.

Trước nhiều quan ngại, rủi ro có thể xảy đến, ông Linh cho rằng, ngân hàng nhận thức rất rõ điều này. Chính vì vậy Ngân hàng KL99 đăng nhập đã lựa chọn cách “siết mềm”, tức là kiểm soát tín dụng bất động sản theo hướng thận trọng.

Chuyên gia từ Vinacapital cũng cho rằng, lãi suất cho vay mua nhà đã tăng lên khoảng 11% vào cuối năm 2025, mức đủ cao để hạn chế hoạt động đầu cơ, nhưng vẫn ở ngưỡng có thể chấp nhận được đối với người mua nhà để ở.

"Trên thực tế, nhiều nhà đầu cơ thường sử dụng một phép tính “nhanh” với ngưỡng lãi suất khoảng 1%/tháng (tương đương 12 - 13%/năm). Nếu vượt trên mức này, họ thường do dự hơn khi mua bất động sản với mục đích lướt sóng" - chuyên gia từ Vinacapital đánh giá.

lãi suất bất động sản big 4
Kl 99 vòng chung kết vay mua nhà cố định lên 14%/năm, thị trường bất động sản thử “sức bền”. Ảnh minh họa.

Trước đó, vào giữa năm 2025, hầu hết các đợt mở bán mới đều được tiêu thụ gần như ngay lập tức, phần lớn nhờ lực cầu đầu cơ kỳ vọng “lướt sóng” trong bối cảnh giá tăng nhanh. Tuy nhiên, đến cuối năm, khi lãi suất vay mua nhà tăng lên khoảng 11%, nhu cầu đầu cơ đã hạ nhiệt, trong khi lãi suất cao hơn khiến người mua để ở thận trọng hơn, dẫn đến tốc độ hấp thụ sản phẩm chậm lại.

Bên cạnh đó, giá bất động sản sơ cấp có thể sẽ điều chỉnh giảm nhẹ trong năm nay, sau khi tăng mạnh trong năm trước. Dự báo giá giảm trong năm 2026 của Vinacapital dựa trên hai yếu tố chính. Một là, nguồn cung gia tăng khi các dự án mới được đưa ra thị trường. Hai là, mức tăng khoảng 1 điểm phần trăm của lãi suất cho vay mua nhà trong năm vừa qua.

Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, năm 2026 hệ thống ngân hàng dự kiến đưa thêm khoảng 2,8 triệu tỷ đồng ra nền kinh tế, thấp hơn quy mô bơm vốn của năm trước khoảng 183.000 tỷ đồng. Con số này cho thấy định hướng tăng trưởng vẫn được duy trì, nhưng đã chuyển sang trạng thái thận trọng và có chọn lọc hơn.

Trong bối cảnh lãi suất có xu hướng tăng, tín dụng được kiểm soát theo hướng chọn lọc và hoạt động đầu tư “lướt sóng” dần thoái trào, thị trường đang bước vào một bài kiểm tra mới về “sức bền” đối với cả Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lẫn nhà đầu tư trong chu kỳ tiếp theo./,

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng KL99 đăng nhập bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng KL99 đăng nhập yêu cầu siết kiểm tra

Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng KL99 đăng nhập yêu cầu siết kiểm tra

(TBTCO) - Ngân hàng KL99 đăng nhập chỉ rõ vẫn còn hiện tượng một số ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Vì vậy, Ngân hàng KL99 đăng nhập vừa yêu cầu Ngân hàng KL99 đăng nhập chi nhánh tại các khu vực tăng cường kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất tại địa bàn. Trường hợp phát hiện vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và báo cáo ngay về Ngân hàng KL99 đăng nhập.
Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng KL99 đăng nhập công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng KL99 đăng nhập, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.
Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80