"Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhóm ngân hàng "big 4" vừa đồng loạt tăng lãi suất ở tất cả các kỳ hạn, biên độ từ 0,3 - 0,6 điểm phần trăm, dâng sóng huy động tiền gửi cao điểm cuối năm. Nắm giữ hơn 7,5 triệu tỷ đồng, động thái của nhóm ngân hàng quốc doanh làm nóng cuộc đua lãi suất toàn thị trường và phản ánh sự dịch chuyển trong chiến lược huy động.
aa
Kl 99 vòng chung kết liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD “Sóng” lãi suất dâng cao cuối năm, nhiều công cụ can thiệp phải kích hoạt Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp

Đồng loạt tăng lãi suất 0,3 - 0,6%

Diễn biến lãi suất huy động ngày 17/12 cho thấy, các ngân hàng "big 4" tăng đồng loạt lãi suất huy động và rõ nét ở tất cả các kỳ hạn, phản ánh áp lực huy động vốn gia tăng mạnh vào giai đoạn cao điểm cuối năm. Đáng chú ý, mức tăng không chỉ tập trung ở kỳ hạn ngắn mà đã lan rộng sang các kỳ hạn dài hơn.

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, Agribank điều chỉnh lãi suất lên 2,4%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm, trong khi Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng lên mức 2,1%/năm, với biên độ tăng mạnh hơn, tới 0,5 điểm phần trăm. Việc lãi suất kỳ hạn rất ngắn tăng nhanh cho thấy nhu cầu bổ sung thanh khoản tức thời của các ngân hàng trong bối cảnh chi trả cuối năm và cạnh tranh hút tiền gửi ngắn hạn diễn ra gay gắt.

"Big 4" nắm hơn chi phối 7,5 triệu tỷ đồng tiền gửi

Thống kê tổng tiền gửi tại 27 ngân hàng niêm yết và Agribank đạt hơn 14,3 triệu tỷ đồng 9 tháng đầu năm 2025, tăng 9,6% so với đầu năm và thấp hơn. Trong đó, BIDV dẫn đầu với gần 2,09 triệu tỷ đồng, tăng 7%, tiếp đến là Agribank với khoảng 2,04 triệu tỷ đồng. VietinBank và Vietcombank lần lượt nắm gần 1,8 triệu tỷ và hơn 1,6 triệu tỷ đồng, tăng tương ứng 11% và 6%. Nhóm "Big4" nắm giữ trên 7,5 triệu đồng, chiếm 52,7% tổng tiền gửi nhóm khảo sát.

BIDV đã duy trì mức lãi suất huy động 1,6%/năm trong thời gian dài, từ tháng 3/2025 đến giữa tháng 12/2025. Đây là mức lãi suất thấp kỷ lục trong nhiều năm, phản ánh chủ trương giữ chi phí vốn ở mức thấp nhằm hỗ trợ Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99, kích thích tín dụng và góp phần thúc đẩy phục hồi, tăng trưởng kinh tế.

Hiện BIDV đang triển khai bộ ba giải pháp tiền gửi linh hoạt gồm chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 1 - 24 tháng lãi suất cố định, CD - Flex linh hoạt bán lạ và đầu tư sinh lời tự động, nhằm hỗ trợ Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 tối ưu dòng tiền nhàn rỗi trong bối cảnh thị trường biến động. Các giải pháp đáp ứng tiêu chí an toàn, linh hoạt hiệu quả, đồng thời đi kèm chương trình khuyến mại cuối năm với giá trị lớn.

Trong tháng cuối năm, Vietcombank cũng triển khai chương trình ưu đãi tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, dành cho khách hàng gửi tiền từ 200 triệu đồng trở lên tại quầy, kỳ hạn 6 hoặc 12 tháng được nhận ưu đãi tiền mặt hoặc chuyển khoản tương ứng 0,05% giá trị khoản tiền gửi.

Sang kỳ hạn 3 tháng, mặt bằng lãi suất tiếp tục nhích lên rõ rệt. Agribank nâng lãi suất lên 2,7%/năm (tăng 0,3 điểm phần trăm), còn ba ngân hàng quốc doanh còn lại đồng loạt áp dụng mức 2,4%/năm, với mức tăng lên tới 0,5 điểm phần trăm.

Ở nhóm kỳ hạn trung hạn 6, xu hướng tăng lãi suất trở nên rõ ràng và đồng đều hơn. Agribank đưa lãi suất lên 3,8%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm. Trong khi đó, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng niêm yết mức 3,5%/năm, với biên độ tăng phổ biến 0,5 - 0,6 điểm phần trăm. Đây là kỳ hạn được nhiều người gửi tiền lựa chọn vì mức sinh lời cao hơn kỳ hạn ngắn, thời gian gửi không quá dài, linh hoạt xoay vòng vốn và phù hợp với nhu cầu chi tiêu, đầu tư hoặc tái gửi khi mặt bằng lãi suất tiếp tục điều chỉnh.

Đối với kỳ hạn dài từ 12 đến 24 tháng, lãi suất đã được đẩy lên mức cao nhất trong biểu lãi suất và được các ngân hàng niêm yết lãi suất bằng nhau. Tại kỳ hạn 12 tháng, "big 4" đều niêm yết mức 5,2%/năm, với mức tăng phổ biến 0,5 - 0,6 điểm phần trăm. Ở kỳ hạn 24 tháng, lãi suất tiếp tục được nâng lên 5,3%/năm, mức tăng tương tự.

Tín dụng tăng kỷ lục, "big 4" phát tín hiệu mới

Theo giới phân tích, khác với các ngân hàng tư nhân thường điều chỉnh lãi suất theo từng bước nhỏ, các ngân hàng quốc doanh có xu hướng tăng lãi suất huy động theo kiểu dứt khoát, với biên độ lớn.

Khi "big 4" đồng loạt nâng lãi suất, mặt bằng lãi suất toàn thị trường lập tức bị kéo lên, tạo hiệu ứng lan tỏa toàn hệ thống và làm nóng thêm "cuộc đua" lãi suất toàn thị trường. Diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản cuối năm, đồng thời cho thấy các ngân hàng đang chuẩn bị nguồn vốn cho chu kỳ tín dụng mới.

Mỹ thúc giục Ukraine chấp nhận bảo đảm an ninh 'tiêu chuẩn bạch kim'

Số liệu của Ngân hàng KL99 đăng nhập cho thấy, tính đến cuối tháng 11, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 16,6% so với đầu năm. Đây là mức cao nhất quan sát được kể từ 2013, phản ánh nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế, đặc biệt khi mà rất nhiều các dự án cơ sở hạ tầng được thúc đẩy mạnh vào cuối năm.

Chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động ngày càng lớn khiến lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh hồi đầu tháng 12. Ngân hàng KL99 đăng nhập đã chủ động sử dụng công cụ hoán đổi (Swap) USD với VND nhằm hỗ trợ thanh khoản VND trên hệ thống liên ngân hàng kể từ ngày 5/12.

Thực tế cho thấy, khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động cũng kéo tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) của nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, áp lực thanh khoản là hệ quả tất yếu và đã bộc lộ khá rõ trên các mặt bằng lãi suất.

"Trong bối cảnh tín dụng đã tăng mạnh, bài toán điều hành sắp tới không chỉ là “bơm đủ vốn”, mà là kiểm soát nhịp độ tăng tín dụng phù hợp với khả năng huy động và sức hấp thụ thực của nền kinh tế; đồng thời, củng cố nền vốn trung dài hạn cho hệ thống ngân hàng để tránh tích tụ rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc".

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, áp lực từ thị trường liên ngân hàng dần truyền sang thị trường huy động dân cư.

Khi tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao, các ngân hàng buộc phải cạnh tranh mạnh hơn để hút vốn đầu vào, nhất là ở các kỳ hạn trung và dài.

"Điều này giải thích vì sao mặt bằng lãi suất huy động có xu hướng nhích lên hoặc khó giảm thêm, dù định hướng chung vẫn là ổn định lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng" - ông Huân nhận định.

Kl 99 vòng chung kết cho vay vì thế chịu sức ép tăng theo, nhưng theo vị chuyên gia này, mức độ truyền dẫn không hoàn toàn, do các ngân hàng phải chia sẻ một phần chi phí vốn tăng thêm để giữ khách hàng và hỗ trợ phục hồi kinh tế. Kết quả là biên lãi ròng (NIM) bị co hẹp, nhất là ở những ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng nền vốn chưa đủ dày.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính mới phát hành ngày 17/12, theo ước tính của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Kl99kl tải ứng dụng của Ngân hàng Techcombank, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của nhóm 8 ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay cổ phần lớn đã tăng 91 điểm cơ bản trong năm nay và còn dư địa tăng thêm khoảng 20 điểm cơ bản từ nay cho đến cuối năm.

Trong bối cảnh giải ngân đầu tư công chưa có sự bứt phá, cùng nhu cầu rút tiền mặt gia tăng do gần Tết, lãi suất tiền gửi sẽ chịu áp lực tăng thêm trong các tháng tới.

"Kl 99 vòng chung kết huy động VND kỳ vọng sẽ tăng thêm 88 điểm cơ bản trong 2026. Tuy nhiên, mức lãi suất này vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất giai đoạn trước Covid-19" - bộ phận phân tích Techcombank đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng KL99 đăng nhập bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng KL99 đăng nhập yêu cầu siết kiểm tra

Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng KL99 đăng nhập yêu cầu siết kiểm tra

(TBTCO) - Ngân hàng KL99 đăng nhập chỉ rõ vẫn còn hiện tượng một số ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Vì vậy, Ngân hàng KL99 đăng nhập vừa yêu cầu Ngân hàng KL99 đăng nhập chi nhánh tại các khu vực tăng cường kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất tại địa bàn. Trường hợp phát hiện vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và báo cáo ngay về Ngân hàng KL99 đăng nhập.
Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng KL99 đăng nhập công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng KL99 đăng nhập, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.
Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80