“Sóng” lãi suất dâng cao cuối năm, nhiều công cụ can thiệp phải kích hoạt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Áp lực vốn cuối năm đang “thổi bùng” cuộc đua lãi suất huy động, khi có tới 29 ngân hàng tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng từ đầu quý IV/2025 và “đỏ mắt” không thấy nhà băng nào giảm; liên ngân hàng leo lên mức cao nhất 3 năm. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng KL99 đăng nhập đã kích hoạt công cụ can thiệp mới.
aa

Áp lực vốn cuối năm "thổi bùng" cuộc đua lãi suất

Khảo sát bảng lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của gần 50 ngân hàng đến ngày 12/12 cho thấy, mặt bằng lãi suất đã tăng mạnh so với đầu quý IV/2025, với biên độ điều chỉnh khá rộng, lên đến 1,5 điểm phần trăm, có 29 nhà băng tăng lãi suất, đỏ mắt không thấy ngân hàng nào giảm

Theo đó, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ và vừa dẫn đầu mức tăng, nổi bật nhất là PGBank với mức điều chỉnh tới 1,5 điểm phần trăm, tiếp theo là PVcomBank (1,3 điểm phần trăm), BacABank (1,25 điểm phần trăm), VikkiBank (1,1 điểm phần trăm) và HongLeong (1 điểm phần trăm). Trong nhóm này, ngân hàng tư nhân lớn như VPBank cũng điều chỉnh tăng mạnh, thêm 1 điểm phần trăm, phản ánh nhu cầu đẩy mạnh huy động vốn trong bối cảnh áp lực thanh khoản gia tăng vào thời điểm cuối năm.

“Sóng” lãi suất dâng cao cuối năm, nhiều công cụ can thiệp phải kích hoạt
Mặt bằng lãi suất hiện đã tăng mạnh so với đầu quý IV/2025. Ảnh: An Thu

Nhóm các ngân hàng như: Techcombank, VCBNeo, OCB, CIMB... cũng điều chỉnh tăng từ 0,6 - 0,9 điểm phần trăm, nhằm đáp ứng nguồn vốn cho tín dụng mùa cao điểm quý IV.

Điểm danh các ngân hàng đưa lãi suất niêm yết tại quầy 6 tháng lên trên 6%/năm có thể kể đến: PGBank (6,5%/năm), BacABank (6,5%/năm), VikkiBank (6,4%/năm), VCBNeo (6,2%/năm) và NCB (6,1%/năm) đang chịu áp lực huy động vốn lớn hơn mặt bằng chung, buộc phải nâng biên độ điều chỉnh mạnh hơn.

Nhìn chung, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 6 tháng đang trong xu hướng tăng đồng loạt, với 29 nhà băng nâng lãi suất trong kỳ, trong khi "đỏ mắt" không thấy ngân hàng nào hạ lãi suất, chủ yếu do nhu cầu đảm bảo nguồn vốn ngắn hạn cuối năm, đáp ứng "cơn khát" thanh khoản lan rộng toàn hệ thống. Biến động lãi suất phân hóa mạnh giữa các nhóm ngân hàng cũng phản ánh khác biệt về cấu trúc nguồn vốn, mức độ phụ thuộc vào thị trường 1 và áp lực cạnh tranh trên thị trường huy động hiện nay.

Đáng chú ý, ở kỳ hạn 1 - 5 tháng vốn bị áp trần 4,75%/năm theo quy định của Ngân hàng KL99 đăng nhập, hàng loạt ngân hàng đã nâng lãi suất lên kịch trần, với mức điều chỉnh tăng đáng kể so với cuối tháng 9/2025. Điều này phản ánh rõ ràng áp lực huy động vốn ngắn hạn khi bước vào thời điểm căng thẳng thanh khoản cuối năm.

Đơn cử, PGBank ghi nhận mức tăng cao nhất, lên tới 0,95 điểm phần trăm, phản ánh nhu cầu huy động vốn ngắn hạn rất lớn trong giai đoạn cuối năm. PVcomBank cũng tăng mạnh 1,45 điểm phần trăm, đưa mức lãi suất 3 tháng lên 4,75%/năm, cho thấy chiến lược cạnh tranh huy động khá rõ nét. Sacombank cũng có cú bật 1,3 điểm phần trăm lên sát trần (4,5%/năm)...

Biến động tăng mạnh nhất lại nằm ở nhóm ngân hàng vừa và nhỏ, vốn phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường 1, trong khi các ngân hàng có thanh khoản ổn định chỉ điều chỉnh ở mức nhẹ hơn. Điều này cho thấy mặt bằng lãi suất ngắn hạn đang chịu lực kéo lên đáng kể, đồng thời báo hiệu xu hướng cạnh tranh huy động có thể tiếp tục duy trì trong thời gian tới.

LDR vượt ngưỡng, ngân hàng khát vốn

Trong báo cáo về thị trường tiền tệ Công ty cổ phần Kl99com link không chặn MBS (MBS) phát hành, khối nghiên cứu đánh giá, đến cuối tháng 11/2025, trung bình lãi suất kỳ hạn 3 tháng của nhóm ngân hàng quốc doanh tăng 13 điểm cơ bản so với cuối tháng mười lên mức 2,03%. Trong khi đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 3 tháng của nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay tư nhân tăng 28 điểm cơ bản lên mức 4,2%/năm.

Áp lực thanh khoản lan rộng

"Ngân hàng KL99 đăng nhập buộc phải điều chỉnh tăng lãi suất OMO, bởi tình trạng cạn thanh khoản đã trở nên rõ rệt và mang tính phổ biến trên phạm vi toàn hệ thống. Xu hướng này nhiều khả năng sẽ còn tiếp diễn, vì đây là vấn đề mang tính tổng thể của toàn ngành ngân hàng, chứ không chỉ xảy ra ở một vài ngân hàng".

Ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ.

Còn trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay tư nhân đến cuối tháng 11 tăng 27 điểm cơ bản so với đầu năm lên mức 5,32%, trong khi lãi suất của nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay quốc doanh giữ ổn định ở mức 4,7%.

"Việc mặt bằng lãi suất tiền gửi bắt đầu nhích tăng từ đầu quý IV phản ánh nhu cầu huy động vốn gia tăng nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng có xu hướng tăng mạnh vào cuối năm theo chu kỳ mùa vụ" - Khối nghiên cứu MBS nhận định.

Thông tin từ Ngân hàng KL99 đăng nhập cho thấy, tính đến ngày 27/11, tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với cuối năm 2024, cao hơn tốc độ tăng cả năm 2024 (15,09%), cao nhất trong nhiều năm qua và vượt xa tốc độ tăng trưởng huy động toàn hệ thống.

Tỷ lệ cho vay/vốn huy động (LDR) hiện đang trở thành tâm điểm phản ánh rõ nét mức độ căng thẳng thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Theo đánh giá của chuyên gia Công ty cổ phần đầu tư AFA Capital, nguyên nhân cốt lõi khiến LDR leo lên mức cao là sự mất cân đối giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động vốn. Dữ liệu cho thấy khoảng cách giữa tín dụng và huy động toàn nền kinh tế đã nới rộng lên gần 110%, một mức đáng báo động. Điều này cho thấy nhu cầu vốn cho vay đang vượt xa khả năng tự cân đối của các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay thông qua nguồn tiền gửi.

"LDR cao là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy mặt bằng lãi suất ngắn hạn tăng lên. Khi nguồn vốn huy động không theo kịp tốc độ giải ngân, ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay phải chuyển sang vay mượn trên thị trường liên ngân hàng (thị trường 2)" - chuyên gia AFA Capital đánh giá.

Áp lực duy trì LDR dưới ngưỡng an toàn cùng với tình trạng thiếu thanh khoản đã tác động rõ rệt lên kênh huy động vốn trái phiếu Kl99ok nhận ưu đãi bất ngờ.

Kl 99 vòng chung kết liên ngân hàng vọt lên đỉnh 3 năm, phải mở rộng kênh hỗ trợ

Theo quan sát của khối phân tích MBS, lãi suất qua đêm liên ngân hàng đã liên tục duy trì đà tăng mạnh, từ mức 5,4% ở đầu tháng 11/2025 lên 6,4% vào cuối kỳ và tăng tiếp lên 7,5% trong những ngày đầu tháng 12, mức cao nhất trong vòng 3 năm qua. Kl 99 vòng chung kết các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng đang neo ở mức 7,2 - 7,4%, trong khi kỳ hạn 6 tháng ở mức 7,2%. Trước diễn biến này, Ngân hàng KL99 đăng nhập đã tăng lãi suất OMO lần đầu tiên trong 19 tháng lên mức 4,5%.

Cùng với đó, Ngân hàng KL99 đăng nhập vẫn duy trì trạng thái bơm thanh khoản qua kênh thị trường mở (OMO). Tính chung trong tháng 11, Ngân hàng KL99 đăng nhập đã bơm hơn 365.300 tỷ đồng với lãi suất 4%, kỳ hạn từ 7 - 105 ngày. Cùng với đó, lượng vốn đáo hạn trên OMO trong kỳ đạt gần 258.900 tỷ đồng. Như vậy, Ngân hàng KL99 đăng nhập đã bơm ròng hơn 106.400 tỷ đồng trong kỳ, đánh dấu mức bơm ròng theo tháng cao nhất kể từ tháng 4/2024.

Tuy nhiên, theo chuyên gia AFA Capital, kênh hỗ trợ truyền thống như thị trường mở cũng đang chạm ngưỡng cao, thể hiện ở việc lượng OMO đang lưu hành đã vượt mốc 360.000 tỷ đồng. Sự phụ thuộc lớn vào kênh này, cùng với tỷ lệ cho vay trên vốn huy động ở mức cao, càng cho thấy tính cấp bách của việc bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng.

Trong bối cảnh này, Ngân hàng KL99 đăng nhập đã kích hoạt công cụ can thiệp mới, đó là giao dịch hoán đổi ngoại tệ (FX Swap) ngày 5/12, Ngân hàng KL99 đăng nhập thực hiện mua USD giao ngay từ các tổ chức tín dụng với tỷ giá 23.945

VND/USD và sẽ bán lại lượng ngoại tệ đó theo hợp đồng kỳ hạn 14 ngày với tỷ giá 23.955 VND/USD. Theo đánh giá, công cụ này sẽ hỗ trợ thanh khoản trong ngắn hạn.

Cùng với đó, sau 3 lần giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cuối năm với tổng mức giảm 0,75 điểm phần trăm, chênh lệch lãi suất giữa USD và VND sẽ thu hẹp, qua đó giảm bớt áp lực lên tỷ giá trong nước. Nhờ vậy, Việt Nam được kỳ vọng có thêm dư địa để duy trì mặt bằng lãi suất ổn định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80