-->

Ngân hàng kích hoạt nhiều giải pháp cản đà giảm của NIM

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Biên lãi ròng (NIM) ngành ngân hàng có khả năng đã chạm đáy vào cuối quý III/2025, nhưng triển vọng phục hồi vẫn chưa rõ nét. Tiền gửi không kỳ hạn (CASA) không còn rẻ, trong khi thanh khoản chịu sức ép khi tín dụng tiếp tục tăng mạnh vào cuối năm. Trước bối cảnh đó, các ngân hàng chủ động đưa ra nhiều biện pháp ứng phó.
aa

NIM ngành ngân hàng nhiều khả năng đã chạm đáy

Chia sẻ tại buổi cập nhật kết quả KL99 com tặng +199k mới đây, ông Nguyễn Văn Hòa - Thành viên Hội đồng Quản trị Ngân hàng ACB cho biết, cuối quý III/2025, NIM của ACB đạt 3,12%. "Việc giảm NIM là xu thế chung của thị trường" - lãnh đạo ACB nhấn mạnh.

Gần đây, áp lực thanh khoản tăng cao làm lãi suất huy động nhích nhẹ, khiến chi phí vốn của ACB tăng 13 điểm cơ bản, lên 3,4%. Ở chiều ngược lại, ACB tiếp tục hỗ trợ Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 khó khăn và duy trì vị thế thị phần tín dụng, khiến lợi suất Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp sinh lãi giảm nhẹ 2 điểm, còn 6,52%, qua đó tác động thêm lên NIM. Cùng với đó, năm nay, tăng trưởng tín dụng có nhiều chuyển biến khi tín dụng khách hàng cá nhân tăng 11%, trong khi khách hàng Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 tăng 20%, biên sinh lời mảng Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 nhỏ hơn và hẹp hơn, nên NIM cũng chịu ảnh hưởng.

Ngân hàng kích hoạt nhiều giải pháp cản đà giảm của NIM
Nguồn: Công ty cổ phần Kl99com link không chặn Rồng Việt (VDSC). Đồ hoạ: Phương Anh

Với Techcombank, theo bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99, Khối Kl99kl tải ứng dụng Kế hoạch Techcombank, nhờ quản lý chi phí vốn tương đối tốt, NIM trượt 12 tháng của Techcombank đạt 3,8%.

Đại diện Techcombank đánh giá, NIM đã chạm đáy vào nửa đầu năm 2025 và bắt đầu có tín hiệu cải thiện, song kết quả có thể chưa đến ngay lập tức. Do đó, dự báo NIM quý IV/2025 nhiều khả năng vẫn ở mức khoảng 3,8%.

Tối ưu chi phí vốn và cơ cấu tín dụng để cải thiện NIM

"Dự báo, 3 tháng cuối năm, áp lực lên NIM của ACB cũng như các tổ chức tín dụng khác vẫn hiện hữu. ACB đang đẩy mạnh các biện pháp nhằm hạn chế đà giảm của NIM, gồm tăng cường huy động, trong đó có tăng CASA. Đồng thời, với tín dụng, ACB ưu tiên lĩnh vực có biên sinh lời cao như cho vay trung và dài hạn, nhằm giảm đà suy giảm NIM trong 3 tháng cuối năm".

Ông Nguyễn Văn Hòa - Thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng ACB

Về xu hướng năm 2026, đại diện Techcombank nhận định, việc cải thiện NIM vẫn là thách thức không nhỏ đối với toàn thị trường. Áp lực từ phía huy động vẫn lớn, khi sự khan hiếm nguồn vốn huy động từ khách hàng sẽ tiếp tục gia tăng. Từ quý IV/2025, lãi suất huy động bắt đầu tăng trở lại. Tính đến cuối quý III/2025, tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt hơn 13%, trong khi huy động vốn mới chỉ tăng 9,7%, qua đó tạo áp lực thanh khoản đáng kể cho toàn hệ thống. Dự báo, cuộc cạnh tranh về lãi suất thời gian sắp tới sẽ khá khốc liệt.

Bên cạnh đó, lãi suất cho vay dù chững lại đôi chút, nhưng vẫn là cuộc đua đầy gay cấn giữa các ngân hàng, bởi ngân hàng nào cũng muốn giành thị phần cho vay và xây dựng nền tảng khách hàng các năm tiếp theo. Do vậy, bà Thủy cho rằng, trong ngắn hạn chưa thể nhìn thấy sự cải thiện vượt trội của NIM.

Nhiều sức ép ngược chiều lên NIM toàn ngành

Từ góc nhìn toàn cảnh ngành ngân hàng, phân tích lý do NIM vẫn chịu nhiều "dồn nén", TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh đánh giá, lãi suất cho vay vẫn được định hướng ổn định và giảm xuống, dẫn đến NIM giảm, buộc các ngân hàng phải có những toan tính riêng.

Bên cạnh đó, chi phí vốn có xu hướng tăng. "Trước đây, ngân hàng thu hút CASA cùng tiền gửi có kỳ hạn, với mức lãi suất huy động bình quân thấp. Hiện nay, nhiều ngân hàng triển khai hình thức sinh lời tự động, dòng tiền thông minh, khiến chi phí vốn tăng từ tiền gửi không kỳ hạn tới kỳ hạn ngắn, dù lãi suất kỳ hạn ngắn bị giới hạn bởi trần. Kl 99 vòng chung kết liên ngân hàng cũng tăng, từ đó tạo nên sức ép. Nhu cầu tín dụng tăng, thì huy động cũng phải tăng" - ông Linh lý giải.

Chưa kể, kênh tiền gửi ngân hàng còn phải cạnh tranh với các kênh đầu tư khác. Vị chuyên gia này chỉ ra rằng, ngành ngân hàng vẫn đối mặt với nhiều diễn biến không thuận, khi chi phí vốn và nợ xấu tăng, khiến trích lập dự phòng tăng cao. Phần lớn Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất của ngân hàng đến từ Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất lãi thuần, dẫn đến NIM bị "nén", cộng thêm hàng loạt áp lực khác, khiến nhiều ngân hàng không khỏi lo lắng.

Theo phân tích từ Công ty cổ phần Kl99com link không chặn Rồng Việt (VDSC), NIM toàn ngành giảm 10 điểm cơ bản theo quý, xuống 3%, về mức đáy của quý I/2025 và thấp hơn so với cùng kỳ 30 điểm cơ bản, khi chi phí vốn tăng nhanh hơn lợi suất Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp. Diễn biến này bị ảnh hưởng bởi 2 sức ép ngược chiều.

Một là, lợi suất Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp sinh lãi giảm 5 điểm cơ bản theo quý, xuống 6,5%, mặc dù lợi suất cho vay đi ngang. Đây là cấu phần tác động lớn nhất đến lợi suất Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp. Đáng chú ý, nợ quá hạn hình thành ròng tăng trở lại, chủ yếu từ nợ nhóm 2 trong quý III/2025, trái ngược với quý II/2025 khi Trang Chủ Chính Thức KL 99 Uy Tín Mới Nhất từ lãi hưởng lợi từ thu lãi ngoại bảng do tổng nợ quá hạn hình thành ròng giảm mạnh.

Hai là, chi phí vốn tăng 5 điểm cơ bản theo quý, lên 3,9%, chủ yếu do xu hướng tăng lãi suất huy động.

Trong bối cảnh NIM được cho là đã tạo đáy, nhưng vẫn chưa ghi nhận sức bật rõ nét, các ngân hàng đang tìm cách xoay xở bằng nhiều cách thức.

Bà Bùi Thị Thu Thủy cho biết, Techcombank vẫn kiên định với các hành động và chiến lược để cải thiện NIM, bao gồm duy trì và nâng cao đà tăng trưởng CASA, kỳ vọng đạt tỷ lệ CASA bền vững và tốt hơn trong năm 2025 để tận dụng nguồn vốn giá rẻ. Đồng thời, ngân hàng cũng điều chỉnh cơ cấu tín dụng sang các sản phẩm cho vay tín chấp với lãi suất cao hơn, qua đó cải thiện NIM và kỳ vọng NIM năm 2026 có thể quay lại mức 4%.

Kl 99 vòng chung kết đầu vào tăng nhiệt, CASA không còn rẻ

Theo Công ty cổ phần Kl99com link không chặn BIDV (BSC), năm 2025 ghi nhận một lượng lớn nguồn tiền trên thị trường 2 được sử dụng để tài trợ cho tín dụng thị trường 1.

Xét riêng quý III/2025, BSC ước tính, khối lượng bơm ròng qua kênh thị trường mở hơn 1 triệu tỷ đồng, tương đương 187% mức tăng ròng của dư nợ tín dụng (hơn 540.000 tỷ đồng). Kỳ hạn cũng được đẩy lên cao hơn mức thông thường 7 và 14 ngày, với 22% lượng bơm ròng có kỳ hạn 35 và 91 ngày. Nhu cầu lớn khiến lãi suất liên ngân hàng duy trì mức nền cao là không thể tránh khỏi.

Không chỉ lãi suất thị trường 2 hay lãi suất huy động có kỳ hạn gia tăng, lãi suất CASA thực tế hiện nay cũng không còn rẻ như trước, khi các ngân hàng "chạy đua" với sản phẩm sinh lời tự động, cơ bản là dùng tiền nhàn rỗi của khách hàng để đầu tư vào loại hình khác và cam kết rút trước hạn không mất lãi.

Nhìn chung, với mặt bằng lãi suất huy động gia tăng, BSC cho rằng, tỷ lệ CASA toàn ngành có thể chịu áp lực trong thời gian tới, khi khách hàng có xu hướng dịch chuyển sang kỳ hạn dài hơn, nhất là khi tỷ lệ CASA đang ở mức cận đỉnh ghi nhận vào đầu năm 2022.

"Để bảo vệ NIM, nhiều ngân hàng, đặc biệt là nhóm tư nhân có vị thế trong ngành, đã chủ động tăng lãi suất cho vay trở lại" - BSC nhận định.

Trong thời gian tới, nhóm phân tích BSC cho rằng, xu hướng này được kỳ vọng đem lại tín hiệu khởi sắc cho các ngân hàng quốc doanh, vì đây là nhóm đã có nhiều đóng góp qua các gói cho vay lãi ưu đãi. Điển hình là cả Vietcombank và BIDV đã đồng loạt dừng triển khai gói cho vay mua nhà cố định lãi suất 3 năm đầu, thay vào đó, cố định kỳ hạn ngắn hơn, trong khoảng 1 - 2 năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Chênh lệch giữa tỷ giá USD trên thị trường tự do và ngân hàng đang thu hẹp nhanh chóng sau giai đoạn căng thẳng đầu năm.
Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Kl99ok nhận ưu đãi bất ngờ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng Kl99com nhà cái bóng đá world cup KL99 com tặng +199k bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. M.Kl99.love code khuyến mãi dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất M.Kl99.love Hoàn Trả Vô Tận Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 chủ động cơ cấu danh mục Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
KL99 com tặng +199k hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

KL99 com tặng +199k hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - KL99 com tặng +199k trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lớn, với mức điều chỉnh phổ biến từ 3 - 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về vùng 146,2 - 150,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80