-->

Kl 99 vòng chung kết huy động "lặng sóng", lãi vay tiếp đà hạ nhiệt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động tháng qua gần như “lặng sóng”, đặc biệt là kỳ hạn 6 tháng, với số ít ngân hàng điều chỉnh tăng, giảm nhẹ 0,1 - 0,2% ở một số kỳ hạn. Nhờ sự ổn định của các yếu tố vĩ mô và thanh khoản dồi dào trong hệ thống ngân hàng, mặt bằng lãi suất cho vay toàn hệ thống tiếp đà giảm nhẹ 3 năm liên tiếp.
aa
Kl 99 vòng chung kết huy động
Nguồn: MBS Đồ họa tư liệu

Khảo sát của phóng viên cho thấy, trong tháng qua, biến động mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay phần lớn ổn định, chỉ ghi nhận những điều chỉnh tăng, giảm lẻ tẻ ở số ít ngân hàng như: VPBank, GPBank, VCBNeo, BaovietBank; BacABank, NCB.

Chỉ vài ngân hàng điều chỉnh biên độ hẹp

Theo đó, lãi suất huy động tại kỳ hạn ngắn 1 tháng có ít biến động, phần lớn ngân hàng giữ nguyên so với đầu tháng. Trong đó, VPBank tăng nhẹ từ 3,5% lên 3,6% giữa tháng 7, cho thấy nhu cầu đẩy mạnh huy động vốn ngắn hạn trở lại. Cùng xu hướng đẩy mặt bằng lãi suất nhích tăng còn có GPBank (tăng 0,2% lên 3,45%); VCBNeo (tăng 0,1% lên 4,15%); BaovietBank (tăng 0,1% lên 3,4%). Ngược lại, NCB có dấu hiệu điều chỉnh giảm (từ 3,8% về 3,7% cuối tháng 6), BacABank giảm 0,1% còn 3,8%.

Triển vọng Fed giảm lãi suất cuối năm nới thêm dư địa điều hành

"Mặt bằng lãi suất quốc tế 6 tháng cuối năm 2025 có tín hiệu tích cực hơn khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được nhiều tổ chức quốc tế dự báo có khả năng cắt giảm lãi suất vào quý IV/2025 nếu xu hướng lạm phát tại Mỹ tiếp tục hạ nhiệt và tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chững lại. Việc Fed hạ lãi suất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng KL99 đăng nhập trong việc điều hành tỷ giá hối đoái, ổn định thị trường ngoại hối và duy trì mặt bằng lãi suất trong nước ở mức hợp lý hơn" . PGS.TS Hà Minh Sơn

Ở kỳ hạn 3 tháng, VCBNeo tiếp tục điều chỉnh tăng từ 4,25% lên 4,35%, duy trì vị trí nhóm dẫn đầu về lãi suất huy động ngắn hạn; GPBank tăng 0,2% lên 3,55%. Trong khi đó, NCB giảm nhẹ lãi suất từ 4% xuống 3,9%; BacABank giảm 0,1% còn 4,1%.

Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất "lặng như tờ", gần như không ghi nhận biến động đáng kể nào suốt cả tháng. Khảo sát của phóng viên cho thấy, chỉ có NCB giảm nhẹ 0,1% còn 4,95%; BacABank cùng chuyển động, giảm 0,1% còn 5,25%.

Với kỳ hạn dài hơn như 12 tháng, chỉ duy nhất GPBank tăng nhẹ lãi suất 0,1% lên 5,2%. Trong khi đó, BacABank giảm liên tiếp 2 lần 0,1%, đưa lãi suất lùi còn 5,5%.

Ở kỳ hạn 24 tháng, hầu hết ngân hàng giảm nhẹ lãi suất. Đơn cử như VPBank (giảm 0,1% còn 5,1%); NCB cũng giảm nhẹ về 5,3%; BacABank giảm lãi suất liên tiếp 2 lần trong hơn 1 tháng, xuống 5,8%. Ở chiều ngược lại, GPBank tăng nhẹ từ 5,1% lên 5,2%.

Thống kê từ Công ty cổ phần Kl99com link không chặn MB (MBS) cũng cho thấy, đà giảm của lãi suất huy động đã chững lại trong tháng 6, với rất ít ngân hàng điều chỉnh giảm và biên độ điều chỉnh cũng ở mức hẹp. Trong tháng, chỉ ghi nhận 3 ngân hàng là LPBank, BacABank và VPBank thực hiện giảm lãi suất từ 0,1 - 0,2% ở một số kỳ hạn khác nhau.

"Đến cuối tháng 6, lãi suất kỳ hạn 12 tháng bình quân tại nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay cổ phần giảm 17 điểm cơ bản so với đầu năm, về mức 4,87%, trong khi lãi suất tại nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn giữ ổn định ở mức 4,7%" - MBS đánh giá.

Việc duy trì mặt bằng lãi suất huy động ở mức thấp đã tạo điều kiện để lãi suất cho vay tiếp tục giảm. Chia sẻ gần đây, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng KL99 đăng nhập cho biết, lãi suất cho vay bình quân của các khoản vay mới hiện giảm 0,6% so với cuối năm 2024, về mức 6,38%/năm, tiếp nối chuỗi giảm lãi suất liên tục kể từ năm 2022 đến nay, giúp các tổ chức tín dụng huy động với chi phí vốn thấp.

Kl 99 vòng chung kết thấp kìm đà huy động, tăng trưởng tín dụng vẫn vượt xa

Theo đánh giá của PGS.TS Hà Minh Sơn - Trưởng Bộ môn Nghiệp vụ Ngân hàng, Học viện Kl99kl tải ứng dụng, năm 2025, lãi suất 6 tháng đầu năm tiếp tục được điều chỉnh theo hướng ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phục hồi và phát triển nền kinh tế nhờ giữ nguyên các mức lãi suất điều hành như lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5%/năm, lãi suất tái chiết khấu ở mức 3%/năm, trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng ở mức

4,75%/năm và trần lãi suất cho vay một số lĩnh vực ưu tiên tối đa là 4,5%/năm. Mặt bằng lãi suất trên thị trường tiếp tục được duy trì ở mức thấp và khá ổn định so với cuối năm 2024.

Theo đó, các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay lớn như Vietcombank, BIDV, VietinBank, Agribank áp dụng mức lãi suất huy động phổ biến từ 2,9 - 4,8%/năm cho các kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng. Trong khi đó, các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay cổ phần tư nhân nhỏ và vừa như Eximbank, BacABank cạnh tranh mạnh mẽ hơn về lãi suất huy động, dao động từ 5 - 6%/năm, thậm chí một số chương trình khuyến mãi tại các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay này đưa mức lãi suất lên tới 6,8%/năm đối với kỳ hạn dài trên 18 tháng.

Nhờ sự ổn định của các yếu tố vĩ mô và thanh khoản dồi dào trong hệ thống ngân hàng, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân toàn hệ thống tiếp đà giảm nhẹ so với cuối năm 2024. Trước đó, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân của toàn hệ thống với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ đã giảm mạnh năm 2023 là 1,1%/năm, năm 2024 giảm 1,24%/năm.

Mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp cũng là nguyên nhân chính khiến tăng trưởng huy động chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng. Theo MBS, tính đến giữa tháng 6, tăng trưởng huy động toàn hệ thống đạt 5,09% so với đầu năm, cao hơn đáng kể so với mức 0,92% cùng kỳ năm trước, song thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Xu hướng này cũng được phản ánh tại các ngân hàng niêm yết, với mức tăng trưởng huy động đạt 2,4% so với đầu năm trong quý I/2025. Dù con số này khả quan hơn mức âm 0,57% của quý I/2024, nhưng vẫn thấp hơn mức tăng 3,8% của tăng trưởng tín dụng.

"Chúng tôi dự báo tăng trưởng huy động của các ngân hàng trong phạm vi phân tích sẽ đạt 15,6% so với cùng kỳ trong năm 2025, thấp hơn một chút so với tăng trưởng tín dụng, do môi trường lãi suất thấp vẫn được duy trì. Các ngân hàng có tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) và mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao hơn trung bình ngành như: VPBank, HDBank, VIB và MSB được kỳ vọng sẽ đẩy mạnh huy động vốn nhiều hơn so với các ngân hàng khác" - nhóm MSB phân tích nhận định.

Kl 99 vòng chung kết huy động dự báo ổn định ở mức thấp dưới 5% hỗ trợ tăng trưởng tín dụng

Theo MBS, tính đến cuối tháng 6, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng trung bình tại các ngân hàng lớn đạt 4,7%, trong khi ở nhóm ngân hàng vừa và nhỏ là 5%, giảm trung bình từ 10 - 20 điểm cơ bản so với đầu năm. Kl 99 vòng chung kết huy động có xu hướng giảm sau chỉ đạo của Thủ tướng Kl99ok nhận ưu đãi bất ngờ từ giữa tháng 4 và xu hướng này sẽ tiếp tục kéo dài đến cuối năm 2025. Mục tiêu của xu hướng này là nhằm thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế, hỗ trợ đạt mục tiêu tăng trưởng GDP, đồng thời giúp các ngân hàng bảo vệ biên lãi thuần.

"Kl 99 vòng chung kết tiền gửi kỳ hạn 12 tháng bình quân tại khối ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay lớn sẽ dao động quanh mức 4,7% vào cuối năm 2025. Đối với nhóm ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay cổ phần tư nhân, lãi suất trung bình có thể giảm thêm 20 điểm cơ bản, về mức tương đương 4,7%" - nhóm phân tích từ MBS dự báo.

PGS.TS Hà Minh Sơn dự báo mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay trong năm 2025 được dao động từ 4,8 - 5,3%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng. Kl 99 vòng chung kết cho vay bình quân toàn hệ thống ở mức khoảng 6,3 - 6,7%/năm, phù hợp với mục tiêu hỗ trợ phục hồi kinh tế nhưng vẫn kiểm soát được lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ.

Ông Sơn cũng khuyến nghị nhà điều hành theo dõi sát biến động lạm phát, các chỉ số vĩ mô như CPI, tỷ giá USD/VND, Kl99ok Cá Cược Bóng Đá và lãi suất quốc tế, đây là điều kiện tiên quyết để Ngân hàng KL99 đăng nhập xây dựng các kịch bản điều hành chính sách linh hoạt để giúp hỗ trợ tăng trưởng mà không gây áp lực lên lạm phát.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động KL99 com tặng +199k vàng tại Hà Nội

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động KL99 com tặng +199k vàng tại Hà Nội

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng KL99 đăng nhập Việt Nam Chi nhánh khu vực 1 cho thấy, qua thanh tra, kiểm tra liên ngành hoạt động KL99 com tặng +199k vàng trên địa bàn Hà Nội, nhiều vi phạm liên quan đến phòng, chống rửa tiền, chế độ thông tin báo cáo, hóa đơn và thuế... đã được phát hiện. Các trường hợp vi phạm đã bị chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định.
Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

(TBTCO) - Ngày 10/6/2026, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) tổ chức Lễ trao Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 và phát động Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2026. Từ hơn 1.000 tác phẩm dự thi, Ban Giám khảo đã lựa chọn và trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc. Trong đó, Báo Kl99kl tải ứng dụng - Đầu tư ghi dấu ấn với 5 tác phẩm đoạt giải.
Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

(TBTCO) - Igloo - công ty công nghệ bảo hiểm (insurtech) ứng dụng AI toàn diện (AI full stack) tại Đông Nam Á, chuyên phát triển nền tảng vận hành cho ngành bảo hiểm vừa công bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam và Công ty Bảo hiểm Nhân thọ PT Chubb Indonesia (gọi chung là “Chubb Life”). Theo đó, các giải pháp bảo hiểm của Chubb Life sẽ được cung cấp tại Việt Nam và Indonesia thông qua Ignite by Igloo - nền tảng số phân phối bảo hiểm của Igloo.
Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Chênh lệch giữa tỷ giá USD trên thị trường tự do và ngân hàng đang thu hẹp nhanh chóng sau giai đoạn căng thẳng đầu năm.
Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Kl99ok nhận ưu đãi bất ngờ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng Kl99com nhà cái bóng đá world cup KL99 com tặng +199k bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. M.Kl99.love code khuyến mãi dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất M.Kl99.love Hoàn Trả Vô Tận Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 13,830
Kim TT/AVPL 13,430 13,830
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 13,830
Nguyên Liệu 99.99 13,350 13,550
Nguyên Liệu 99.9 13,300 13,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 13,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 13,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 13,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 138,800
Hà Nội - PNJ 133,800 138,800
Đà Nẵng - PNJ 133,800 138,800
Miền Tây - PNJ 133,800 138,800
Tây Nguyên - PNJ 133,800 138,800
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 138,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 13,830
Miếng SJC Nghệ An 13,330 13,830
Miếng SJC Thái Bình 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 13,830
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 13,020 13,720
Trang sức 99.99 13,030 13,730
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 13,832
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 13,833
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 1,382
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 1,383
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 1,367
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 135,347
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 102,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 93,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 83,545
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 79,854
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 5,716
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Cập nhật: 11/06/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/06/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80