-->

Kinh tế giữ nhịp bền bỉ, Ngân hàng UOB nâng kỳ vọng tăng trưởng GDP năm 2026

Ánh Tuyết
Đại diện Ngân hàng UOB Singapore vừa nâng dự báo tăng trưởng năm 2026 lên 7,5% (từ 7%), phản ánh sức bền bỉ của nền kinh tế và đà tăng trưởng hiện tại. Tuy nhiên, rủi ro vẫn hiện hữu khi nền so sánh cao, xuất khẩu có thể hạ nhiệt sau giai đoạn tăng tốc do bất định chính sách thuế quan của Mỹ, trong khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ không còn nhiều.
aa
Ngân hàng UOB nhận diện ẩn số tác động đến tăng trưởng GDP, tỷ giá năm 2026 Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc VPBankS kỳ vọng tỷ giá USD năm 2026 chỉ biến động 1%, nâng đỡ dòng vốn ngoại

Chiều ngày 9/1, Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) vừa phát hành báo cáo mới nhất về việc nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026.

Dữ liệu củng cố triển vọng, song chưa thể chủ quan trước thuế quan Mỹ

Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Kl99kl tải ứng dụng) cho thấy, GDP thực tế của Việt Nam tăng mạnh 8,46% so với cùng kỳ trong quý IV/2025, cao hơn mức 8,25% của quý III/2025, nhờ hoạt động xuất khẩu và sản xuất duy trì vững vàng bất chấp tác động từ thuế quan của Mỹ.

Kết quả này vượt dự báo của Bloomberg (7,7%) và dự báo của Ngân hàng UOB (7,2%), đánh dấu mức tăng trưởng theo quý mạnh nhất kể từ năm 2009 (không tính biến động do Covid-19). Tính chung cả năm 2025, GDP tăng 8,02%, cao hơn dự báo 7,7% của Ngân hàng UOB.

Kinh tế giữ nhịp bền bỉ, Ngân hàng UOB nâng kỳ vọng tăng trưởng GDP năm 2026
Kinh tế giữ nhịp bền bỉ, Ngân hàng UOB nâng kỳ vọng tăng trưởng GDP năm 2026. Ảnh minh hoạ.

"Chúng tôi nâng dự báo tăng trưởng năm 2026 lên 7,5% (từ 7%), phản ánh sức bền bỉ và đà tăng trưởng hiện tại. Tuy nhiên, mức nền thống kê cao, khả năng suy giảm của xuất khẩu sau giai đoạn đẩy mạnh trước đó, cùng với sự bất định về chính sách thuế của Mỹ, là những rủi ro có thể kìm hãm quỹ đạo tăng trưởng".

Ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu Thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore

Nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng vượt trội trong năm 2025, dù chịu áp lực từ thuế quan của Mỹ. Với mức tăng trưởng 8% trong năm, Việt Nam bước vào năm 2026 với nền tảng vững chắc.

Động lực chính cho sự bứt phá trong quý IV/2025 tiếp tục đến từ hoạt động xuất khẩu, tăng 19% so với cùng kỳ, nối tiếp mức tăng 18,2% của quý III, bất chấp thách thức từ thuế quan.

Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2025 tăng khoảng 17%, đạt mức kỷ lục 473 tỷ USD so với khoảng 400 tỷ USD năm 2024. Tuy nhiên, M.Kl99.love Hoàn Trả Vô Tận tăng 19% đã khiến thặng dư KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay cả năm giảm xuống còn 19 tỷ USD (so với 24 tỷ USD năm 2024).

Các số liệu khác trong quý tiếp tục xóa tan lo ngại về tác động của thuế quan Mỹ. Niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vẫn được duy trì, với vốn đăng ký tăng nhẹ 0,5%, đạt 38,4 tỷ USD trong năm 2025. Vốn FDI thực hiện tăng mạnh 9%, đạt mức kỷ lục mới 27,6 tỷ USD, so với kỷ lục trước đó 25,4 tỷ USD năm 2024, khi các nhà đầu tư nước ngoài đẩy nhanh kế hoạch đầu tư trong bối cảnh dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng rõ nét tại Việt Nam.

Ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu Thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore cũng nhấn mạnh tính chất mở của nền kinh tế Việt Nam khi xuất khẩu Đăng nhập tài khoản thành viên Kl99 và dịch vụ chiếm tới 83% GDP, cao thứ hai ASEAN sau Singapore (182%), đồng thời có mức độ phụ thuộc lớn vào thị trường Mỹ.

Vì vậy, mặc dù hoạt động KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay của Việt Nam vẫn duy trì mạnh mẽ bất chấp thuế quan của Mỹ, một kịch bản tiềm ẩn là đơn hàng xuất khẩu có thể giảm khi nhu cầu đẩy mạnh trước đó suy yếu và giá cao hơn ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu dùng Mỹ, đặc biệt trong năm 2026.

Kỳ vọng duy trì lãi suất điều hành ổn định

Với kết quả tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2025 và triển vọng khả quan cho năm 2026, chuyên gia UOB cho rằng, Ngân hàng KL99 đăng nhập Việt Nam gần như không có nhiều dư địa để nới lỏng chính sách ở thời điểm này. Trong khi đó, áp lực lạm phát vẫn hiện hữu, với lạm phát bình quân năm 2025 ở mức 3,2% (chung) và 3,3% (lạm phát cơ bản, loại trừ thực phẩm và năng lượng), so với lần lượt 3,6% và 2,85% trong năm 2024. Chi phí y tế và giáo dục là những yếu tố chính duy trì mức lạm phát cao, dù xu hướng đã phần nào ổn định.

Kinh tế giữ nhịp bền bỉ, Ngân hàng UOB nâng kỳ vọng tăng trưởng GDP năm 2026
Nguồn: Dự báo của Ngân hàng UOB về tăng trưởng GDP và lãi suất tái cấp vốn năm 2026.

Thị trường ngoại hối cũng là một yếu tố quan trọng. Theo UOB, đồng VND là đồng tiền giảm giá mạnh thứ ba tại châu Á trong năm 2025, mất giá 3,1% so với USD, chỉ thấp hơn mức giảm của đồng rupee Ấn Độ (4,8%) và rupiah Indonesia (3,5%), nhưng cao hơn mức giảm của peso Philippines.

Ngược lại, các đồng tiền trong khu vực hưởng lợi từ xu hướng USD suy yếu, với mức tăng từ 10% của ringgit Malaysia đến 0,3% của yen Nhật trong năm qua.

Trong báo cáo trước đó, nhóm phân tích UOB cũng chỉ rõ, đồng VND ghi nhận năm thứ tư liên tiếp giảm giá so với USD. Mặc dù các yếu tố bất định liên quan đến thuế quan gây áp lực lên tâm lý thị trường, tăng trưởng GDP cao hơn kỳ vọng đã góp phần hạn chế đà mất giá.

Biến động tỷ giá được kiểm soát, nhờ việc Ngân hàng KL99 đăng nhập duy trì lãi suất điều hành ở mức 4,5% trong suốt năm và thực hiện can thiệp ngoại hối nhằm giảm thiểu các biến động mạnh trên thị trường.

"Dựa trên các yếu tố trên, chúng tôi kỳ vọng Ngân hàng KL99 đăng nhập sẽ giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5% trong suốt năm 2026" - đại diện Ngân hàng UOB kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động KL99 com tặng +199k vàng tại Hà Nội

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động KL99 com tặng +199k vàng tại Hà Nội

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng KL99 đăng nhập Việt Nam Chi nhánh khu vực 1 cho thấy, qua thanh tra, kiểm tra liên ngành hoạt động KL99 com tặng +199k vàng trên địa bàn Hà Nội, nhiều vi phạm liên quan đến phòng, chống rửa tiền, chế độ thông tin báo cáo, hóa đơn và thuế... đã được phát hiện. Các trường hợp vi phạm đã bị chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định.
Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

(TBTCO) - Ngày 10/6/2026, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) tổ chức Lễ trao Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 và phát động Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2026. Từ hơn 1.000 tác phẩm dự thi, Ban Giám khảo đã lựa chọn và trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc. Trong đó, Báo Kl99kl tải ứng dụng - Đầu tư ghi dấu ấn với 5 tác phẩm đoạt giải.
Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

(TBTCO) - Igloo - công ty công nghệ bảo hiểm (insurtech) ứng dụng AI toàn diện (AI full stack) tại Đông Nam Á, chuyên phát triển nền tảng vận hành cho ngành bảo hiểm vừa công bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam và Công ty Bảo hiểm Nhân thọ PT Chubb Indonesia (gọi chung là “Chubb Life”). Theo đó, các giải pháp bảo hiểm của Chubb Life sẽ được cung cấp tại Việt Nam và Indonesia thông qua Ignite by Igloo - nền tảng số phân phối bảo hiểm của Igloo.
Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Chênh lệch giữa tỷ giá USD trên thị trường tự do và ngân hàng đang thu hẹp nhanh chóng sau giai đoạn căng thẳng đầu năm.
Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Kl99ok nhận ưu đãi bất ngờ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng Kl99com nhà cái bóng đá world cup KL99 com tặng +199k bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. M.Kl99.love code khuyến mãi dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 13,830
Kim TT/AVPL 13,430 13,830
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 13,830
Nguyên Liệu 99.99 13,350 13,550
Nguyên Liệu 99.9 13,300 13,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 13,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 13,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 13,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 138,800
Hà Nội - PNJ 133,800 138,800
Đà Nẵng - PNJ 133,800 138,800
Miền Tây - PNJ 133,800 138,800
Tây Nguyên - PNJ 133,800 138,800
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 138,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 13,830
Miếng SJC Nghệ An 13,330 13,830
Miếng SJC Thái Bình 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 13,830
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 13,020 13,720
Trang sức 99.99 13,030 13,730
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 13,832
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 13,833
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 1,382
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 1,383
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 1,367
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 135,347
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 102,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 93,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 83,545
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 79,854
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 5,716
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Cập nhật: 11/06/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/06/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80