Tín dụng bứt tốc, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo ông Nguyễn Anh Quân - Chuyên gia phân tích kiêm Phụ trách Xếp hạng Khối Định chế tài chính, FiinRatings, nhiều ngân hàng vẫn chịu áp lực về chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp, vì vậy, năm 2025, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và an toàn hệ thống tiếp tục là điều cần lưu tâm.
aa
Tín dụng bứt tốc, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro
Nguồn: FiiinRating Đồ họa tư liệu

PV: Để tạo đà tăng trưởng kinh tế năm 2025 ở mức cao trên 8%, tạo tiền đề cho tăng trưởng hai con số nhiệm kỳ tới, tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng lên 16%, cao nhất trong vòng nhiều năm. Ông nhận định thế nào về mục tiêu này và làm thế nào để bẻ lái dòng tín dụng đúng hướng, hỗ trợ tăng trưởng?

Tín dụng bứt tốc, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro

Ông Nguyễn Anh Quân: Chúng tôi đánh giá mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% là tham vọng, song khả năng đạt được là khả thi. Tuy nhiên, vấn đề lớn nằm ở việc phân bổ tín dụng vào lĩnh vực có mức độ hấp thụ vốn tốt và tiềm năng phát triển lớn, nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững cũng như duy trì rủi ro hệ thống ngân hàng ở mức chấp nhận được.

Để thực hiện mục tiêu vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế cao, vừa đảm bảo mục tiêu an toàn hệ thống, hay nói cách khác là tính bền vững của hệ thống, chúng tôi cho rằng, chúng ta nên cân nhắc triển khai các biện pháp trọng tâm.

Tín dụng tăng tốc, NIM vẫn có thể suy giảm

Sang năm 2025, kỳ vọng NIM của ngành sẽ có xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ chủ yếu do hai yếu tố: (i) áp lực cạnh tranh về lãi suất cho vay giữa các ngân hàng và (ii) lãi suất huy động được kỳ vọng sẽ tăng nhẹ trong năm, buộc các ngân hàng phải tìm cách tối ưu hóa hiệu suất hoạt động, cắt giảm chi phí để duy trì lợi nhuận. Mặc dù vậy, với các chính sách hỗ trợ tăng trưởng kinh tế tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh, nhiều ngân hàng có thể sẽ vượt mức mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% là mục tiêu của toàn hệ thống, qua đó, mang lại lợi nhuận thấp hơn nhưng tiệm cận so với năm 2024".

Thứ nhất, đẩy mạnh việc áp dụng một cách hiệu quả khung quản trị tăng trưởng dựa theo rủi ro, không chỉ cho tăng trưởng mà còn phân bổ tín dụng theo rủi ro theo các quy định hiện có và các thông lệ tốt mà Ngân hàng KL99 đăng nhập Việt Nam (NHNN) và các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay đang triển khai theo Basel 3. Theo đó, lãi suất trên bình diện chung có thể không tăng nhưng nên chấp nhận một thực tế, nhiều ngành, lĩnh vực và những khách hàng cụ thể có thể có mức lãi suất cao hơn đáng kể so với mức lãi cho vay bình quân, tùy theo chất lượng tín dụng và điểm xếp hạng tín dụng của từng khách hàng và tùy theo khẩu vị rủi ro, chiến lược phát triển từng ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay.

Thứ hai, cần khẩn trương bổ sung, tăng năng lực vốn và bộ đệm vốn cho các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay, bởi nhu cầu tăng trưởng tín dụng lớn, trong khi tỷ lệ an toàn vốn của ngành Ngân hàng hiện khá thấp. Đây là yếu tố quan trọng để thực hiện tốt chủ trương của Kl99ok nhận ưu đãi bất ngờ và NHNN về việc hạ lãi suất huy động.

Về những lĩnh vực dự kiến hút dòng vốn tín dụng năm nay, chúng tôi cho rằng nhu cầu tín dụng đến từ ba ngành chủ chốt. Một là, công nghiệp chế biến chế tạo, do vai trò quan trọng trong nền kinh tế và xu hướng mở rộng sản xuất. Hai là, xây dựng, do nhu cầu vốn trong lĩnh vực xây dựng dự kiến sẽ có sự gia tăng với nhiều dự án hạ tầng đang và sẽ được triển khai. Ba là, bất động sản dân cư do mảng bán lẻ được kỳ vọng sẽ phục hồi nhất định trong năm 2025, cùng sự hồi phục của nền kinh tế.

PV: Năm vừa qua cũng được xem là một năm thành công trong điều hành tăng trưởng tín dụng khi đạt mục tiêu của NHNN, nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng cao hơn trung bình toàn ngành với bức tranh lợi nhuận sáng sủa. Theo ông, điều gì giúp tăng trưởng tín dụng bứt tốc ngoạn mục và bài học để lại cho năm nay là gì?

Ông Nguyễn Anh Quân: Năm 2024, NHNN triển khai các chính sách điều hành linh hoạt trong năm nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng bên cạnh các chính sách hỗ trợ khác. Chẳng hạn, giảm thiểu yêu cầu về phương án sử dụng vốn với các khoản cấp tín dụng có giá trị nhỏ quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2024. Đồng thời, giảm thiểu yêu cầu về phương án sử dụng vốn với các khoản vay dưới 100 triệu đồng tại Thông tư 12/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024… Ngoài ra, NHNN thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm giảm mặt bằng lãi suất cho vay, hỗ trợ người dân và Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 tiếp cận vốn với chi phí hợp lý, thúc đẩy hoạt động sản xuất KL99 com tặng +199k.

Việc duy trì lãi suất cho vay ở mức thấp tạo điều kiện thuận lợi cho Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 và người dân tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt trong các lĩnh vực tiêu dùng, xuất khẩu, chuyển đổi số và công nghệ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Theo số liệu từ NHNN, tính đến ngày 31/12/2024, tín dụng nền kinh tế tăng 15,08% so với cuối năm 2023. Tuy nhiên, vấn đề tồn tại là tín dụng vẫn tập trung ở các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lớn và đặc biệt là ngành bất động sản tăng trưởng 28,5% năm 2024, tức gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng chung.

Tăng trưởng tín dụng khả quan trong năm 2024 đóng góp tích cực vào bức tranh lợi nhuận của nhiều ngân hàng, trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) của ngành tiếp tục xu hướng giảm trong năm 2024, sau khi có sự suy giảm đáng kể trong năm 2023, cùng các nguồn thu ngoài lãi phục hồi tương đối chậm.

PV: Trong bối cảnh tín dụng mở bung hơn so với nhiều năm, song thông tư gia hạn, cơ cấu nợ hết hạn cùng nhiều ngân hàng đã giảm tỷ lệ trích lập nợ xấu, ông đánh giá thế nào về chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp các ngân hàng?

Ông Nguyễn Anh Quân: Về chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp, chúng tôi nhìn nhận một số điểm tương đối tích cực. Theo đó, tỷ lệ nợ có vấn đề được báo cáo, bao gồm nợ nhóm 2 - 5 và nợ xấu chuyển giao cho VAMC (Công ty Quản lý Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp của các tổ chức tín dụng Việt Nam) có sự ổn định trong vài quý vừa qua.

Cùng với đó, chúng tôi đã nêu quan điểm về việc Thông tư 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 không được gia hạn sẽ có tác động không đáng kể đến tỷ lệ nợ xấu chung của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, theo dữ liệu chúng tôi tổng hợp, mức độ trích lập bao phủ nợ xấu cũng tăng lên đáng kể, đến từ việc các ngân hàng thực hiện xóa sổ nợ xấu tương đối mạnh trong năm 2024.

Tuy nhiên, bất chấp những yếu tố tích cực này, chúng tôi vẫn bảo lưu quan điểm được nêu trong các báo cáo ngành Ngân hàng trước của FiinRatings với các nhà đầu tư, đó là chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp của ngành sẽ vẫn phải chịu những áp lực nhất định từ giai đoạn trước.

PV: Xin cảm ơn ông!

Áp lực chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp xảy ra với cả ngân hàng tư nhân lớn

Theo ông Nguyễn Anh Quân - Chuyên gia phân tích kiêm Phụ trách Xếp hạng Khối Định chế tài chính, FiinRatings, khoảng cách đáng kể giữa tăng trưởng nợ có vấn đề và tăng trưởng cho vay cho thấy áp lực đang diễn ra với chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp. Trong năm 2025, các ngân hàng, bao gồm cả ngân hàng nhỏ và một số ngân hàng tư nhân lớn có tỷ lệ nợ xấu và nợ có vấn đề, cũng như tỷ lệ nợ cơ cấu theo Thông tư 02/2023/TT-NHNN cao hơn mức trung bình ngành, sẽ tiếp tục đối mặt với áp lực về chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp.

Trong giai đoạn năm 2022 và 3 quý đầu năm 2024, chuyên gia FiinRatings nhận thấy tốc độ tăng trưởng cho vay trong ngành thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng nợ xấu (bao gồm cả nợ nhóm 3 - 5 và VAMC) và chỉ cao hơn tốc độ tăng trưởng nợ có vấn đề (nợ nhóm 2 - 5 và VAMC) từ nửa cuối năm 2023, với tác động của Thông tư 02 giúp làm giảm tăng trưởng nợ xấu và nợ có vấn đề.

Hơn nữa, trong năm 2024, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của nhiều ngân hàng giảm đáng kể, từ mức trên 90% tại thời điểm cuối năm 2023 xuống khoảng 80% trong 3 quý, trước khi quay lại ngưỡng trên 90% cuối năm 2024. Dù tỷ lệ bao phủ phục hồi, trên thực tế, tổng mức trích lập của các ngân hàng năm 2024 giảm nhẹ so với năm 2023 và tỷ lệ bao phủ được cải thiện phần lớn đến từ việc các ngân hàng thực hiện xóa sổ đáng kể các khoản nợ xấu. Năm 2023 và 2024 có mức nợ xấu xóa sổ cao nhất nhì trong 7 năm gần đây kể từ năm 2017.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80