Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (7 - 11/4) cho thấy, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần giảm mạnh sau chuỗi tăng kéo dài, chỉ số DXY lao dốc bất ngờ, nhưng thị trường vẫn căng thẳng khi tỷ giá USD/VND còn neo cao. Trong bối cảnh quốc tế bất ổn, thuế quan tăng, áp lực tỷ giá và lạm phát vẫn hiện hữu.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/3: Tỷ giá leo trên đỉnh, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4: "Bão" thuế quan từ Mỹ đẩy tỷ giá lên đỉnh mới Tổng thống Trump hoãn áp thuế 90 ngày, tăng thuế với Trung Quốc lên 125%

Ngày 11/4, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng KL99 đăng nhập (NHNN) niêm yết ở mức 24.923 VND/USD, giảm mạnh 41 đồng so với phiên trước. Với biên độ 5%, các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay có thể giao dịch trong khoảng 23.677 - 26.169 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng KL99 đăng nhập, tỷ giá tham khảo cũng được điều chỉnh giảm 41 đồng hai chiều, hiện ở mức giảm 23.727 - 26.119 VND/USD.

Tỷ giá USD bán ra tuột khỏi mốc 26.000 đồng

Tại các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay, nhiều đơn vị cũng điều chỉnh giảm sâu. Đơn cử, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.530 - 25.920 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 50 đồng hai chiều so với phiên trước. Sacombank cũng điều chỉnh giảm mạnh tỷ giá USD 60 đồng, xuống 25.550 - 25.910 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tỷ giá trung tâm giảm mạnh sau chuỗi 6 phiên miệt mài tăng

Về diễn biến trong tuần qua (7 - 11/4), tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng mạnh ba phiên giữa tuần tổng cộng 78 đồng và đạt đỉnh 24.964 VND/USD ngày 10/4, song giảm mạnh 41 đồng phiên cuối tuần. Đây cũng là phiên giảm mạnh sau chuỗi 6 phiên tỷ giá trung tâm miệt mài tăng liên tiếp. Tính chung, tỷ giá trung tâm tăng 37 đồng tuần qua.

Trên thị trường tự do, đồng USD được giao dịch ở mức 26.020 - 26.120 VND/USD, giảm sâu 140 đồng cả hai chiều.

Tính chung tuần qua (7 - 11/4), tại các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay, tỷ giá USD giảm khoảng 40 đồng chiều bán ra giúp giải toả căng thẳng, trái ngược với mức tăng sốc 200 đồng sau khi Tổng thống Trump công bố bảng thuế quan đối ứng ngày 2/4 khiến thị trường chao đảo.

Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua biến động mạnh hơn so với ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay khi chiều bán ra vẫn tăng 84 đồng, cao hơn mức tăng tuần trước (76 đồng).

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi
Tỷ giá USD các ngân hàng bán ra giảm khoảng 40 đồng, trái ngược với mức tăng sốc 200 đồng tuần trước. Ảnh tư liệu.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo lường giá trị của đồng USD so với rổ 6 loại tiền tệ chính trên thế giới, bất ngờ “bổ nhào” giảm sâu mất mốc 100 điểm, hiện còn 99,19 điểm, giảm 1,67%.

Ban đầu, giới quan sát kỳ vọng các mức thuế mới sẽ hỗ trợ đồng bạc xanh, tuy nhiên thực tế đồng USD giảm gần 10% kể từ khi ông Trump nhậm chức và giảm 4,8% chỉ trong tuần qua. Điều này có thể cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đang phản ứng với chính sách bảo hộ của ông Trump bằng cách rút khỏi Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp Mỹ, từ đó tạo thêm áp lực giảm giá lên đồng USD. Bên cạnh đó, lo ngại gia tăng về nguy cơ suy thoái kinh tế cũng đang đè nặng lên USD.

Rủi ro thuế quan phủ bóng

Dù tỷ giá hạ nhiệt song vẫn neo ở mức cao, phản ánh áp lực còn dai dẳng từ thị trường quốc tế và tâm lý lo ngại trong nước. Theo báo cáo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý I/2025 của Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore), với mức thuế đối ứng cao, Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 Việt Nam đối mặt với rủi ro sụt giảm đơn hàng xuất khẩu, khi người tiêu dùng Mỹ phản ứng với giá cả tăng bằng cách hủy hoặc trì hoãn đơn hàng, hoặc thậm chí chuyển sang lựa chọn hàng nội địa khi chênh lệch giá thu hẹp.

Trong kịch bản hiện tại, nhóm chuyên gia từ Ngân hàng UOB giả định xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ sẽ giảm 20% trong năm 2025 (sau khi đã tăng 20% trong năm 2024). Đồng thời, nếu xuất khẩu sang các thị trường khác giữ nguyên, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm khoảng 6% trong năm 2025, trái ngược với mức tăng 13% của năm 2024.

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi. Ảnh tư liệu.

"Với các giả định này, đồng thời tính đến tác động lan tỏa lên sản xuất và dòng vốn FDI, mô hình dự báo của chúng tôi cho thấy GDP Việt Nam sẽ giảm 1 điểm phần trăm so với dự báo cơ sở ban đầu" - Ngân hàng UOB dự báo.

Theo đó, Ngân hàng UOB dự báo tăng trưởng GDP quý II và quý III/2025 lần lượt ở mức 6,1% và 5,8%. Trong bối cảnh này, FDI giải ngân và FDI đăng ký có thể sẽ giảm về mức khoảng 20 tỷ USD trong năm nay.

Dự báo biến động tỷ giá các quý cuối năm

"Khi bất ổn gia tăng, áp lực lên tỷ giá VND sẽ tiếp tục leo thang. Chúng tôi duy trì quan điểm đồng VND sẽ tiếp tục yếu đi, với dự báo cập nhật về tỷ giá USD/VND như sau: 26.500 trong quý II/2025, 27.200 trong quý III/2025, 26.800 trong quý IV/2025, 26.500 trong quý I/2026" - ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore nhận định.

Báo cáo từ Ngân hàng UOB cũng lập luận rằng, các đồng tiền châu Á sẽ bước vào giai đoạn suy yếu tiếp theo, sau khi chính quyền Trump áp đặt hàng loạt thuế quan trừng phạt đối với các nền kinh tế châu Á. Khối lượng xuất khẩu gần như chắc chắn sẽ sụt giảm, làm suy yếu triển vọng tăng trưởng và đồng tiền của các nền kinh tế trong khu vực.

Tại Việt Nam, tỷ giá VND giảm xuống mức thấp kỷ lục mới, khoảng 25.800 VND/USD, ngay sau khi Mỹ công bố thuế đối ứng 46% đối với Đăng nhập tài khoản thành viên Kl99 Việt Nam.

Cũng theo ông Trần Ngọc Báu - Chuyên gia kinh tế tài chính, Tổng Giám đốc WiGroup cho biết, tính đến ngày 8/4, đồng VND mất giá khoảng 2,2% so với USD, trong khi chỉ số USD Index giảm 5,8%. Điều này cho thấy VND không chỉ yếu đi so với USD mà còn giảm giá mạnh hơn so với nhiều đồng tiền khác, tương đương mức mất giá gần 10%. Diễn biến này làm gia tăng nguy cơ lạm phát trong thời gian tới, nhất là khi giá M.Kl99.love Hoàn Trả Vô Tận nguyên vật liệu tăng theo. Đáng chú ý, tỷ giá bán USD của nhiều ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay đã vượt mức trần do NHNN quy định trong ngày 8/4.

“Nếu NHNN không nới biên độ hoặc nâng tỷ giá trung tâm lên thì có khả năng phải dần dần bán USD ra để giảm áp lực tỷ giá trong khi dự trữ ngoại hối không còn nhiều. Áp lực đến đâu còn phụ thuộc vào câu chuyện về thuế quan và phản ứng của Fed trước bối cảnh hiện tại của Mỹ” - ông Báu nhìn nhận./.

Bơm ròng gần 24 nghìn tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng tăng nhẹ

Hiện NHNN vẫn đang đẩy mạnh việc cung ứng thanh khoản cho thị trường thông qua kênh thị trường mở (OMO). Theo đó, ở kênh cầm cố, phiên ngày 11/4, có 18.939,2 tỷ đồng trúng thầu, gồm 8.323,29 tỷ đồng ở kỳ hạn 7 ngày; 9.586,64 tỷ đồng ở kỳ hạn 14 ngày và 1.029,27 tỷ đồng ở kỳ hạn 35 ngày; lãi suất đều ở mức 4%; có 9.041,47 tỷ đồng đáo hạn. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN.

Như vậy, NHNN bơm ròng 9.897,73 tỷ đồng từ thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm nay. Có 119.805,52 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố; không có tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Tính chung tuần qua (7 - 11/4), ở kênh cầm cố, có 74.054,02 tỷ đồng trúng thầu; trong đó, có 2.481,4 tỷ đồng trúng thầu kỳ hạn 91 ngày. Khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 50.133,77 tỷ đồng. Tính chung tuần qua, lượng tiền bơm thêm vào hệ thống là 23.920,25 tỷ đồng, cao hơn mức bơm ròng tuần trước đó (14.237,55 tỷ đồng).

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 9/4, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm nhẹ so với phiên trước đó nhưng tăng so với cuối tuần trước ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, kỳ hạn qua đêm tăng 22 điểm cơ bản lên 4,21%; 1 tuần 4,39% (tăng 31 điểm cơ bản); 2 tuần 4,41% (tăng 1 điểm cơ bản); 1 tháng 4,45% (tăng 36 điểm cơ bản)./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80