Sống trên những cú chạm số

(TBTCO) - Quét QR mua đồ ở nước ngoài mà không cần đổi ngoại tệ, ký hồ sơ vay trực tuyến không cần ra quầy, hay mở sổ tiết kiệm online lúc nửa đêm để "đu trend" gameshow… ngân hàng số đang dần trở thành một phần quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người Việt.
aa

Điện thoại thay ví tiền

Trong chuyến du lịch Trung Quốc dịp 30/4, L.H.Quang, một du khách đến từ Hà Nội, gần như không phải dùng tiền mặt. Điều khiến anh ấn tượng là có thể thanh toán trực tiếp bằng VCB Digibank tại các cửa hàng địa phương mà không cần đổi trước Nhân dân tệ.

“Đi Trung Quốc nhưng không kịp đổi tiền Nhân dân tệ, tôi mở VCB Digibank và quét QR thanh toán trực tiếp từ tài khoản tại Việt Nam. Giao dịch xử lý nhanh, tôi không phải mang theo tiền mặt hay lo đổi ngoại tệ”, anh Quang kể. Theo anh, việc quét QR trực tiếp khá thuận tiện, nhiều cửa hàng còn áp dụng ưu đãi cho các giao dịch đầu tiên, tương tự trải nghiệm thanh toán số đang phổ biến tại Việt Nam.

Sống trên những cú chạm số
Người dùng trải nghiệm thanh toán QR xuyên biên giới

Vài năm trước, trải nghiệm này vẫn còn khá xa lạ với nhiều người dùng Việt. Nhưng cùng với sự phát triển của thanh toán QR và kết nối xuyên biên giới, điện thoại đang dần thay thế cả ví tiền trong nhiều chuyến đi.

Tại châu Á, QR đang trở thành một trong những phương thức chi trả phát triển nhanh nhất. Ở Việt Nam, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Vietcombank cũng tham gia làn sóng này thông qua OneQR và QR Outbound, cho phép khách hàng quét mã trực tiếp từ tài khoản trong nước tại nhiều điểm chấp nhận ở nước ngoài.

Từ quán cà phê, cửa hàng tiện lợi đến chợ dân sinh, mã QR đang trở thành hình thức thanh toán quen thuộc của người Việt. Các giao dịch tài chính vì thế cũng diễn ra tự nhiên hơn, liền mạch hơn trong đời sống hàng ngày.

Ngân hàng gắn với định danh số

Nếu QR đang thay đổi thói quen thanh toán, thì VNeID và định danh điện tử lại mở ra một bước chuyển mới của ngân hàng số.

Đại diện Vietcombank - ngân hàng đứng đầu hệ thống cho biết gần đây đã hoàn tất lượng lớn khoản vay trực tuyến bằng xác thực VNeID và ký số từ xa, khách hàng không cần gặp trực tiếp nhân viên ngân hàng. Những thủ tục vốn phải dùng nhiều giấy tờ và ký tá trực tiếp nay được rút gọn còn vài bước xác thực điện tử trên ứng dụng.

Trong vài năm gần đây, Vietcombank là một trong những ngân hàng tiên phong triển khai xác thực sinh trắc học qua CCCD gắn chip, tích hợp VNeID, chữ ký số từ xa và các giải pháp xác thực nâng cao như SoftOTP. Đến cuối năm 2025, ngân hàng đã thu thập sinh trắc học cho hơn 15 triệu khách hàng, khoảng 2,5 triệu tài khoản liên kết an sinh xã hội qua VNeID và giải ngân khoảng 8.350 tỷ đồng thông qua ký số cá nhân.

Xu hướng này đang diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ấn Độ kết nối Aadhaar với UPI để xây dựng hệ sinh thái tài chính số quy mô lớn. Singapore tích hợp Singpass với các dịch vụ ngân hàng và thanh toán, còn Brazil phát triển Pix thành hạ tầng thanh toán tức thời toàn quốc. Điểm chung của các mô hình này là ngân hàng ngày càng gắn sâu hơn với dữ liệu và định danh số quốc gia.

Song song với các giao dịch online, trải nghiệm tại quầy cũng đang được số hóa mạnh hơn. Với VCB Tablet, khách hàng có thể thao tác trực tiếp trên thiết bị số thay cho nhiều quy trình giấy tờ truyền thống, giúp rút ngắn thời gian giao dịch và đồng bộ dữ liệu ngay tại quầy.

Sống trên những cú chạm số
Nhân viên ngân hàng sử dụng VCB Tablet để hỗ trợ thu thập sinh trắc học và mở dịch vụ ngân hàng tại khu công nghiệp ngoài điểm giao dịch của Vietcombank

Năm 2026, VCB Tablet trở thành sản phẩm duy nhất của Việt Nam lọt vào vòng chung kết hạng mục Digital Innovation tại ASEAN Digital Awards. Đây cũng là một trong những dấu ấn cho thấy chuyển đổi số của Vietcombank không chỉ diễn ra trên ứng dụng điện thoại, mà xuyên suốt toàn bộ hành trình phục vụ khách hàng.

Ở góc độ đời sống, những thay đổi ấy hiện diện qua nhiều khoảnh khắc rất quen thuộc: một phụ huynh đóng học phí cho con trên điện thoại giữa giờ tan tầm, một khách hàng xác thực giao dịch bằng sinh trắc học chỉ trong vài giây, hay nhiều người trẻ mở sổ tiết kiệm online ngay trong đêm để “đu idol”, săn mã tham gia gameshow Quán Nhà Haha - nơi câu chuyện về kết nối trải nghiệm tài chính với văn hóa, ẩm thực và nhịp sống hiện đại trở thành chủ đề được bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội gần đây.

Chuyển đổi số trên nền một ngân hàng lớn

Điều đáng chú ý trong hành trình chuyển đổi số của Vietcombank không nằm ở một sản phẩm riêng lẻ, mà ở quy mô triển khai và mức độ phổ cập tới người dùng. Năm 2025, gần 99% giao dịch bán lẻ của ngân hàng được thực hiện qua kênh số; hệ sinh thái số xử lý khoảng 1,17 tỷ giao dịch với tổng giá trị khoảng 14,7 triệu tỷ đồng và gần 18 triệu khách hàng hoạt động trên VCB Digibank.

Để đáp ứng quy mô đó, Vietcombank từng bước xây dựng hệ sinh thái số gồm VCB Digibank, VCB DigiBiz, VCB CashUp, VCB Online Lending cùng các nền tảng iCare, iSchool cho lĩnh vực y tế, giáo dục. Một cột mốc quan trọng trong quá trình này là việc ngân hàng go-live thành công hệ thống Core Banking năm 2020 - nền tảng được xem là “trái tim” của chuyển đổi số ngân hàng hiện đại.

Từ nền móng này, Vietcombank tiếp tục mở rộng theo hướng dữ liệu và AI, tích hợp big data và các mô hình dự báo hiện đại vào quản trị, KL99 com tặng +199k và quản trị rủi ro. Đây cũng là hướng đi mà nhiều ngân hàng quốc tế như DBS, JPMorgan hay BBVA đang theo đuổi: chuyển đổi số không chỉ để giao dịch nhanh hơn, mà còn để vận hành hiệu quả hơn, thông minh hơn và an toàn hơn.

Điểm đặc biệt của Vietcombank nằm ở chỗ quá trình chuyển đổi số diễn ra trên nền một ngân hàng có quy mô Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp, dữ liệu, khách hàng và yêu cầu an toàn thuộc nhóm lớn nhất Việt Nam, nhưng vẫn duy trì hiệu quả KL99 com tặng +199k, độ ổn định và chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp hàng đầu hệ thống.

Ngân hàng số có thể bắt đầu từ một cú quét QR hay một lần xác thực bằng VNeID. Nhưng điều tạo nên khác biệt lâu dài là khả năng duy trì sự tiện lợi, an toàn và ổn định ở quy mô hàng triệu khách hàng mỗi ngày.

Hằng Nga

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80