Phát tín hiệu hạ nhịp tín dụng trước áp lực lãi suất và thanh khoản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Phát tín hiệu “đổi nhịp” điều hành chính sách tiền tệ năm 2026, nhà điều hành nhấn mạnh mục tiêu kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thay vì mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao, trong bối cảnh áp lực thanh khoản và lãi suất dần gia tăng.
aa

Phát tín hiệu “đổi nhịp” điều hành năm 2026

Tại cuộc họp báo cuối năm của Ngân hàng KL99 đăng nhập, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ nhiều lần truyền đi thông điệp điều hành chính sách tiền tệ năm 2026.

Theo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, do phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào thường xuyên biến động và thay đổi, do vậy, việc điều hành chính sách tiền tệ cần bảo đảm tính linh hoạt, nhưng đồng thời phải kiên định về mục tiêu. Trong đó, mục tiêu cốt lõi là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, trên cơ sở đó, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách có điều kiện, theo hướng nhanh và bền vững.

Phát tín hiệu hạ nhịp tín dụng trước áp lực lãi suất và thanh khoản
Nguồn: NHNN, BIDV Research. Đồ họa tư liệu

Thông điệp này cho thấy bước “đổi nhịp” so với năm trước, khi chính sách tiền tệ ưu tiên thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Cũng khác với những đồn đoán về một cuộc "chạy đua" tín dụng lên tới 20% để đạt mức tăng trưởng kinh tế hai con số, nhà điều hành chọn bước đi cẩn trọng hơn.

Ngân hàng KL99 đăng nhập dự kiến sẽ ban hành Chỉ thị về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2026, trong đó, hạn mức tăng trưởng tín dụng sẽ được "siết" về mức 15%, sụt giảm đáng kể so với con số ước thực hiện 19% của năm 2025.

Đây chính là thông điệp về sự cân bằng, vừa đủ mạnh mẽ để hỗ trợ tăng trưởng, vừa đủ nghiêm khắc để kiểm soát chất lượng tín dụng, nắn dòng vốn chảy vào "huyết mạch" sản xuất thay vì các lĩnh vực rủi ro.

Nhiều áp lực đẩy tăng lãi suất

Kl 99 vòng chung kết có xu hướng nhích lên vừa qua. Thứ nhất, tín dụng tăng cao hơn so với huy động vốn. Thứ hai, các kênh đầu tư khác tương đối hấp dẫn, thể hiện rất rõ ở vàng, ngoại tệ, bất động sản, Kl99 fan Máy chủ Đăng nhập, tiền mã hóa, kể cả lĩnh vực khởi nghiệp. Chính vì thế, dòng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng không tăng nhanh và mạnh. Bên cạnh đó, yếu tố thời vụ cũng tác động rõ rệt, bởi nhu cầu vốn của nền kinh tế bao giờ cũng lớn và cao hơn. Trong bối cảnh như vậy, hệ thống ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động tiền gửi để hút tiền vào hệ thống.

TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế Trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng

Theo đó, dự kiến Ngân hàng KL99 đăng nhập sẽ điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 bình quân khoảng 4,5%, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Lãnh đạo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cũng thừa nhận, thời gian qua, thanh khoản hệ thống xuất hiện những khó khăn nhất định. Với ngành ngân hàng, một mâu thuẫn xảy ra là khi tăng trưởng tín dụng ở mức cao thì rất khó duy trì lãi suất thấp trong thời gian dài. Thế nhưng, thời gian qua, ngành ngân hàng đã đạt được điều này, dù điều kiện rất khó khăn.

Dù vậy, vào những tháng cuối năm, khi tiến gần đến dịp Tết, yếu tố mùa vụ làm nhu cầu vốn tín dụng của nền kinh tế tăng cao, cộng hưởng với nhiều yếu tố khác khi huy động "đuối sức" so với tín dụng kéo dài, dòng tiền đổ về nhiều kênh đầu tư hấp dẫn hơn, từ đó, tạo áp lực lớn lên thanh khoản của hệ thống.

"Vấn đề thanh khoản sẽ sớm được điều chỉnh trong thời gian tới theo định hướng điều hành chính sách của Ngân hàng KL99 đăng nhập, nhằm đảm bảo thanh khoản hệ thống được giữ vững, cũng như duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn định" - lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh.

Áp lực thanh khoản dâng cao

Theo đánh giá của TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế Trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng, tín dụng và huy động vốn trong giai đoạn trước 2006 - 2010 gần như song hành với nhau, trong đó, tín dụng tăng trưởng rất cao, lên tới 35%/năm, đẩy lạm phát "bùng" lên mạnh, có những năm lên tới 20%. Sau đó, trong giai đoạn 2011 - 2015, thậm chí huy động vốn còn tăng cao hơn so với tín dụng.

"Tín dụng tăng cao hơn so với huy động vốn khoảng 4 - 5 năm trở về đây. Chính vì thế, thấy rất rõ thanh khoản hệ thống ngân hàng không được dồi dào như trước đây" - ông Lực nhấn mạnh. Bởi tín dụng được tung ra nền kinh tế khá mạnh, trong khi huy động vốn không tăng tương ứng, lệch pha nhau khoảng 3 điểm phần trăm, khiến hệ thống thiếu khoảng 2 triệu tỷ đồng.

Thực tế các biện pháp được Ngân hàng KL99 đăng nhập triển khai vào cuối năm trên thị trường mở (OMO), bao gồm việc tăng lãi suất OMO lên mức 4,5%/năm, mở rộng kỳ hạn nghiệp vụ OMO tối đa lên 105 ngày và thực hiện bán USD kỳ hạn để "bơm" thanh khoản cho hệ thống, đều cho thấy ưu tiên định hình mặt bằng lãi suất ngắn hạn, nâng cao khả năng cung ứng thanh khoản có kỳ hạn cho hệ thống ngân hàng và bảo đảm tỷ giá nằm trong tầm kiểm soát.

Trong báo cáo Triển vọng đầu tư 2026, nhóm phân tích Công ty cổ Phần Kl99com link không chặn Rồng Việt cho rằng, thông điệp điều hành xuyên suốt của Ngân hàng KL99 đăng nhập Việt Nam là linh hoạt hỗ trợ tăng trưởng, nhưng đồng thời phải giữ ổn định.

"Ngân hàng KL99 đăng nhập sẽ chưa tăng lãi suất điều hành, ít nhất trong nửa đầu năm 2026. Thay vào đó, Ngân hàng KL99 đăng nhập sẽ linh hoạt điều tiết qua thị trường mở nhằm ứng phó với áp lực tỷ giá và nhu cầu thanh khoản ngắn hạn" - Kl99com link không chặn Rồng Việt dự báo.

Kl 99 vòng chung kết sẽ thiết lập mặt bằng mới dưới áp lực thanh khoản

Trong báo cáo mang tựa đề "Kiến thiết nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số" vừa phát hành, Công ty cổ phần Kl99com link không chặn MB (MBS) cũng cho rằng, lãi suất sẽ tạo lập mặt bằng mới trong năm 2026.

Nhóm phân tích Kl99com link không chặn MBS cho biết, lãi suất tiền gửi bật tăng từ tháng 10/2025 trên tất cả các kỳ hạn. Tính đến giữa tháng 12/2025, bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng tư nhân tăng 70 - 100 điểm cơ bản so với đầu năm, lên 5,82%; trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh tăng 50 điểm cơ bản, lên 5,2%. Ở các kỳ hạn ngắn, lãi suất tăng thêm khoảng 80 - 120 điểm cơ bản rải rác nhiều kỳ hạn.

"Kl 99 vòng chung kết huy động kỳ hạn 12 tháng có thể tiếp tục tăng thêm khoảng 50 điểm cơ bản trong năm 2026" - Kl99com link không chặn MBS nhận định.

Thứ nhất, do nới rộng chênh lệch giữa cho vay và tiền gửi. Theo MBS, nhu cầu vốn của nền kinh tế được dự báo sẽ tăng mạnh 5 năm tới, nâng tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP từ 32% lên 40%. Trong khi đó, tiền gửi đang dịch chuyển sang các kênh đầu tư ít thanh khoản như: vàng, USD và bất động sản, khiến tốc độ vòng quay vốn trong nền kinh tế chậm lại.

Thứ hai, chênh lệch về cấu trúc kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Hiện tỷ lệ tiền gửi kỳ hạn ngắn, dưới 6 tháng chiếm 80%, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các kế hoạch đầu tư hạ tầng là rất lớn. Điều này dẫn đến áp lực thiếu hụt nguồn vốn dài hạn.

Thứ ba, chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp chưa được cải thiện rõ rệt, trong khi tỷ lệ bao phủ giảm, cho thấy áp lực trích lập dự phòng của các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Đây cũng là một yếu tố khiến lãi suất khó giảm trong ngắn hạn.

Kl99com link không chặn Rồng Việt cũng dự báo, lãi suất huy động dự kiến tăng thêm 50 - 100 điểm cơ bản trong năm 2026, khi vòng quay tiền tiếp tục giảm xuống mức quanh 0,6 lần, vì tín dụng chưa lan tỏa đến các lĩnh vực sản xuất và đầu tư.

Cùng với đó, áp lực huy động để đảm bảo tỷ lệ an toàn thanh khoản như: LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi), vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn diễn ra ở một số ngân hàng, dẫn đến cuộc đua cạnh tranh lãi suất nhằm giữ chân khách hàng. Kl 99 vòng chung kết cho vay sẽ nhích lên mặt bằng mới theo sau mức tăng lãi suất huy động.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80