Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê của TBTCVN cho thấy, năm 2024 có đến 24/27 ngân hàng niêm yết tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng hai chữ số, có ngân hàng tăng gần 30% và dòng vốn tiếp tục được rót vào các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế. Năm 2025, tăng trưởng tín dụng có thể cao hơn chỉ tiêu đề ra (16%) nếu kiểm soát được lạm phát và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cho phép.
aa
Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Theo thông tin từ Ngân hàng KL99 đăng nhập (NHNN), tính đến cuối năm 2024, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ở mức 15,08%, tương ứng ngành Ngân hàng cung ứng thêm vào nền kinh tế khoảng 2,1 triệu tỷ đồng, với tổng dư nợ là 15,5 triệu tỷ đồng. Doanh số cho vay năm 2024 là 23 triệu tỷ đồng, doanh số thu nợ là 21 triệu tỷ đồng. Trong đó, động lực tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng chủ yếu đến từ các ngân hàng niêm yết. Nhóm các "ông lớn" quốc doanh giữ vững các vị trí đầu bảng, chiếm 51% dư nợ cho vay toàn ngành và bỏ xa nhóm ngân hàng tư nhân.

Nhu cầu vay vốn tăng trưởng tích cực

Thống kê của TBTCVN từ 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính năm 2024 cho thấy, dư nợ cho vay khách hàng tăng 18%, đạt 11,85 triệu tỷ đồng.

Tăng trưởng tín dụng có thể cao hơn 16%

Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Trong điều hành hạn mức tín dụng, chúng tôi đặt ra 16% nhưng cũng có thể cao hơn, nếu kiểm soát được lạm phát, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cho phép để đạt mục tiêu tăng trưởng. Phương thức điều hành quản lý hạn mức này trong năm 2025 tiếp tục đổi mới và tạo sự thuận lợi, chủ động cho các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Nếu cho vay tích cực, đúng đối tượng sẽ phát huy được nguồn vốn... Ông Đào Minh Tú Phó Thống đốc Ngân hàng KL99 đăng nhập

Cụ thể, BIDV tiếp tục dẫn đầu về cho vay khách hàng với quy mô 2,056 triệu tỷ đồng, tăng 15,7% cùng kỳ, đây cũng là ngân hàng đầu tiên và duy nhất vượt mốc dư nợ cho vay khách hàng 2 triệu tỷ đồng. Xét về cơ cấu ngành nghề, năm 2024, BIDV cho vay hơn 600 nghìn tỷ đồng trong lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy, tăng trưởng 8,9% cùng kỳ, chiếm tỷ trọng lớn 29,3% dư nợ cho vay của ngân hàng. Bên cạnh đó, cho vay công nghiệp chế biến, chế tạo hơn 100 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% với tỷ trọng 15,5%. Lĩnh vực ghi nhận tốc độ tăng trưởng dư nợ lớn nhất là nông, lâm, thuỷ sản tăng 20%, với dư nợ 77,8 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,78%.

Tiếp đến, VietinBank với số dư hơn 1,7 triệu tỷ đồng, tăng 248,7 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2023, tương ứng tăng 16,9% - mức tăng trưởng cho vay khách hàng cao nhất trong nhóm Big 4.

Agribank hiện chưa niêm yết trên sàn, song theo số liệu ngân hàng công bố, dư nợ cho vay năm 2024 đạt trên 1,72 triệu tỷ đồng, tăng 11% và đứng vị trí thứ ba toàn ngành. Xếp thứ tư là Vietcombank có tổng dư nợ cho vay đạt 1,445 triệu tỷ đồng, tăng 14,1%.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân, MB và VPBank là hai ngân hàng có quy mô cho vay khách hàng đứng top đầu, lần lượt đạt gần 777 nghìn tỷ đồng và 693 nghìn tỷ đồng, tăng cao 27,1% và 22,4% so với cuối năm trước.

Với ngân hàng dẫn đầu nhóm tư nhân, MB cho vay lớn nhất lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ, lên tới 223 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 28,7% tổng dư nợ và tốc độ tăng trưởng khả quan 34,7%. Một số lĩnh vực là động lực tăng trưởng của nền kinh tế cũng tăng trưởng mạnh như: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26% với dư nợ 124 nghìn tỷ đồng; cho vay lĩnh vực sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tiêu dùng của hộ gia đình 186 nghìn tỷ đồng, tăng 11% cùng kỳ.

Động lực cho tăng trưởng tín dụng năm 2025

Về tốc độ tăng trưởng, theo thống kê của TBTCVN, có đến 24/27 ngân hàng tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng cao hai con số. Trong top 10, xét về tốc độ tăng trưởng, một số ngân hàng tư nhân ghi nhận mức tăng trưởng cho vay mạnh phải kể đến như: HDBank (tăng 28,9%); MB (tăng 27,1%); VPBank (tăng 22,36%).

Ngoài ra, một số nhà băng quy mô nhỏ và vừa cũng tăng cao như: NCB (tăng 28,6%), TPBank (tăng 21,96%), VIB (tăng 21,65%)... Tuy nhiên, sự tăng trưởng này cũng tạo ra không ít thách thức cho các ngân hàng này trong việc kiểm soát chất lượng tín dụng, quản lý rủi ro để duy trì sự ổn định, hiệu quả và đảm bảo chất lượng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp trong bối cảnh tín dụng mở rộng nhanh chóng.

Trong khi đó, một số ngân hàng tăng trưởng đuối hơn so với mặt bằng chung toàn ngành như: Ngân hàng An Bình tăng không đáng kể 0,64%; SaiGonBank tăng 9,35%; Bắc Á Bank tăng 9,71%...

Như vậy, năm 2024, dòng vốn tín dụng tiếp tục được nhà điều hành và các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay hướng vào các hoạt động kinh tế thực, các lĩnh vực được coi là động lực tăng trưởng kinh tế và các lĩnh vực ưu tiên.

Đánh giá về tăng trưởng tín dụng năm 2025, nhóm nghiên cứu từ Công ty Cổ phần Kl99com link không chặn Vietcap dự báo, tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức cao và được thúc đẩy bởi động lực tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, môi trường lãi suất thấp được duy trì và tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống đạt 13,4%, phù hợp với dự phóng tăng trưởng tín dụng. Nhu cầu tín dụng dự kiến đến từ các mảng cho vay Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 tiếp tục ở mức cao, đồng thời kỳ vọng mảng cho vay bán lẻ, bao gồm cho vay mua nhà sẽ phục hồi.

Nhìn nhận về mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP, chia sẻ với báo giới gần đây, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho biết, năm 2024, GDP tăng trưởng 7,09% thì tín dụng tăng trưởng 15,08%; năm 2023, GDP tăng trưởng gần 7% thì tăng trưởng tín dụng ở mức 14,55%. "Trung bình hơn 2% tăng trưởng tín dụng sẽ giúp tăng trưởng 1% tăng trưởng GDP" - Phó Thống đốc đánh giá.

Đảm bảo cung ứng vốn, duy trì lãi suất thấp

Theo lãnh đạo NHNN, với mục tiêu tăng trưởng GDP trên 8% hướng đến 10% trong năm 2025 là con số rất ấn tượng mà Kl99ok nhận ưu đãi bất ngờ đặt ra, thể hiện sự cố gắng, quyết tâm để phát triển nền kinh tế và làm tiền đề cho giai đoạn sau. Năm nay, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8%. Nếu tăng trưởng kinh tế đến 10% thì tăng trưởng tín dụng phải ở mức 18 - 20%, đây là nhiệm vụ rất nặng nề.

"Vấn đề làm sao phải có đủ vốn phục vụ tăng trưởng cho nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh các kênh huy động vốn trung, dài hạn như Kl99 fan Máy chủ Đăng nhập, trái phiếu vẫn còn những vấn đề cần củng cố. Vì vậy, trách nhiệm sẽ đặt nặng cho chính sách tiền tệ, tín dụng trong năm 2025" - Phó Thống đốc bày tỏ.

Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 8% năm 2025, Phó Thống đốc NHNN nhấn mạnh, quan điểm điều hành chính sách tiền tệ của NHNN là phải kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền để hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng, đảm bảo những cân đối lớn của nền kinh tế. Điều hành tỷ giá trên thị trường ngoại tệ linh hoạt, phù hợp để tiếp tục hóa giải những tác động của thế giới, nhằm duy trì một thị trường ngoại tệ ổn định.

Với quan điểm, mục tiêu đó cùng với những kinh nghiệm, bài học trước đây, điều hành chính sách tiền tệ năm nay tiếp tục linh hoạt, chặt chẽ và phù hợp với chính sách tài khóa cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách xuất M.Kl99.love Hoàn Trả Vô Tận, chính sách KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay… Ngành Ngân hàng sẽ đảm bảo nguồn vốn cho nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh vốn huy động, vốn nhàn rỗi cho nền kinh tế từ Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99, người dân và có chính sách lãi suất hợp lý để huy động vốn.

"NHNN chỉ đạo các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay tiếp tục giảm lãi suất bằng cách tiết kiệm chi phí, ứng dụng công nghệ giảm chi phí, hỗ trợ lãi suất cho Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 và người dân" - Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú nêu rõ.

NHNN tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất KL99 com tặng +199k, lĩnh vực ưu tiên và triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù đối với một số ngành, lĩnh vực theo chủ trương, chỉ đạo của Kl99ok nhận ưu đãi bất ngờ, Thủ tướng Kl99ok nhận ưu đãi bất ngờ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80