Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nối tiếp đà tăng nóng cuối năm, lãi suất huy động đầu năm 2026 tiếp tục “nhấn ga” khi đồng loạt tăng ở nhiều kỳ hạn, với mức điều chỉnh trên 1 điểm phần trăm chỉ chưa đầy 1 tháng. Khi tăng trưởng huy động hụt hơi so với tín dụng kéo dài, áp lực thanh khoản chưa nguôi, cùng ước lệch pha kỳ hạn hệ thống tới 5 triệu tỷ đồng đẩy mặt bằng lãi suất lên cao.
aa

Kl 99 vòng chung kết tiết kiệm "nhấn ga" đầu năm

Nối tiếp sức nóng từ cuối năm trước, thị trường tiền gửi đầu năm tiếp tục sôi động khi trên các diễn đàn, nhân viên của hàng loạt ngân hàng như: Vikki Bank, ABBank, NCB, VPBank, OCB… liên tục chào mời lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng gần 8%/năm, thậm chí vượt 8,5%/năm. Để "săn" tiền gửi, các nhà băng còn triển khai chương trình tặng lịch, quà tết, cơ hội trúng vàng SJC. Ở chiều ngược lại, người gửi tiền cũng tất bật hỏi han tìm nơi "chọn mặt gửi vàng" cho những khoản tiết kiệm từ vài trăm triệu đến cả tỷ đồng.

Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm
Nguồn: Blooberg. MBS Research

Khảo sát hơn 50 ngân hàng niêm yết lãi suất tiền gửi các kỳ hạn ngày 20/1 cho thấy, xu hướng tăng lãi suất huy động ngay từ đầu năm vẫn khá rõ nét. Với kỳ hạn 6 tháng, nhóm kỳ hạn được người gửi tiền ưa thích, xu hướng tăng lãi suất huy động tiếp tục được duy trì, khi ghi nhận 9 ngân hàng tăng những tuần đầu năm 2026, tiếp đà tăng của gần 40/50 ngân hàng trong quý IV/2025.

Tiếp tục "nhấn ga" lãi suất đầu năm, ABBank gây chú ý khi tăng 1,1 điểm phần trăm so với đầu năm 2026, cao nhất nhóm khảo sát, đưa lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 6,3%/năm. MBV nâng lãi suất 6 tháng lên 6,5%/năm, tăng 1 điểm phần trăm so với đầu năm, cho thấy chiến lược đẩy mạnh huy động vốn.

Sacombank ghi nhận lãi suất 6 tháng 5,4%/năm, tăng 0,5 điểm phần trăm so với đầu năm 2026; so với tháng 10/2025, mức tăng lên tới 1,2 điểm phần trăm.

Đáng chú ý, Agribank trong nhóm “big 4”, tiếp tục tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng thêm 0,2 điểm phần trăm so với đầu năm, lên 4%/năm, nối tiếp đà tăng 0,3 điểm phần trăm vào cuối tháng 12/2025. Như vậy, sau gần một năm gần như “bất động”, lãi suất huy động của Agribank tăng tổng cộng 0,5 điểm phần trăm, thu hút sự quan tâm lớn của thị trường.

Ở kỳ hạn dài 12 tháng, xu hướng tăng lãi suất huy động tiếp tục được khẳng định. Đơn cử, MBV niêm yết lãi suất ở mức 7,2%/năm, một trong số ít ngân hàng niêm yết trên ngưỡng 7%. Nếu cộng thêm các chương trình ưu đãi, lãi suất thực tế được chào mời có thể lên tới 8,5%/năm. Chưa đầy 1 tháng, lãi suất kỳ hạn 12 tháng của MBV đã tăng mạnh 1,3 điểm phần trăm.

Trong khi đó, ABBank niêm yết lãi suất kỳ hạn 12 tháng ở 6,3%/năm, tăng 0,8 điểm phần trăm so với đầu năm 2026.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, nhóm phân tích Công ty cổ phần Kl99com link không chặn MB (MBS) đánh giá, trung bình lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng từ 5,7% vào cuối tháng 12/2025 tiếp tục nhích lên 5,8% vào giữa tháng 1/2026. Trong số 18 ngân hàng được theo dõi, có tới 14 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi ở tất cả các kỳ hạn trong tháng 12.

Xu hướng tăng này tiếp tục được duy trì trong nửa đầu tháng 1/2026, khi có thêm 5 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn với mức tăng từ 0,1 - 0,6 điểm phần trăm. Theo đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng top đầu đến giữa tháng 1/2026 tăng 0,9 điểm phần trăm so với cuối năm 2025, lên mức 5,69%.

"Kl 99 vòng chung kết sẽ thiết lập mặt bằng cao hơn trong năm 2026" - nhóm phân tích MBS nhận định.

Kl 99 vòng chung kết liên ngân hàng hạ nhiệt, nhưng áp lực huy động chưa nguôi

Theo đánh giá của MBS, đến cuối tháng 12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 19% so với cuối năm 2024, gây áp lực đáng kể lên thanh khoản.

Trong bối cảnh đó, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tháng 12/2025 liên tục neo quanh ngưỡng 7 - 7,5%. Trước diễn biến này, Ngân hàng KL99 đăng nhập đã kích hoạt công cụ can thiệp mới là FX Swap, đồng thời duy trì trạng thái bơm ròng thanh khoản qua kênh thị trường mở (OMO).

Theo MBS, nhờ các biện pháp can thiệp, sang giữa tháng 1/2026, lãi suất qua đêm đã hạ nhiệt, dao động quanh mức 4% dù Ngân hàng KL99 đăng nhập liên tiếp duy trì hút ròng thanh khoản trong nửa đầu tháng với tổng giá trị lên tới hơn 94 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng dao động 4,5 - 7,4%, còn lãi suất kỳ hạn 6 tháng vẫn neo ở mức cao, khoảng 7,4%.

Chia sẻ gần đây, TS. Phạm Xuân Hòe - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng cho biết, nhiều ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động, thậm chí, tại một số ngân hàng quy mô nhỏ, lãi suất kỳ hạn 6 tháng khi gửi trực tuyến được điều chỉnh lên tới 8,3%/năm, phản ánh rõ áp lực huy động vốn.

Xoay xở bù đắp thanh khoản, chi phí vốn tăng cao hơn

"Để bù đắp thanh khoản, các ngân hàng sử dụng tổng hợp nhiều kênh. Ngắn hạn là vay mượn trên thị trường liên ngân hàng và tiếp cận các nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng KL99 đăng nhập. Trung hạn là đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá, chứng chỉ tiền gửi với lãi suất cao hơn, hoặc tăng huy động kỳ hạn dài từ khách hàng tổ chức và dân cư. Một số ngân hàng còn cơ cấu lại danh mục Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp, giảm tốc độ giải ngân mới hoặc bán bớt Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp có tính thanh khoản cao để cân đối dòng tiền. Những biện pháp này giúp hệ thống “chống đỡ” trong ngắn hạn, nhưng chi phí vốn tăng là khó tránh".

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân.

Lý giải đà tăng dồn dập của lãi suất huy động, PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, khi tăng trưởng tín dụng diễn ra nhanh hơn tốc độ huy động vốn, kéo tỷ lệ cho vay/tổng tiền gửi (LDR) của nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, áp lực thanh khoản trở thành hệ quả tất yếu và đã bộc lộ khá rõ trên mặt bằng lãi suất.

Theo ông Huân, lãi suất liên ngân hàng phản ứng nhanh nhất, khiến nhu cầu vay mượn ngắn hạn giữa các ngân hàng tăng lên để bù đắp chênh lệch kỳ hạn và thiếu hụt vốn khả dụng, đẩy lãi suất qua đêm và kỳ hạn ngắn biến động mạnh hơn, có những thời điểm bật lên rõ rệt so với giai đoạn thanh khoản dư thừa.

"Đây là tín hiệu sớm cho thấy hệ thống bước vào trạng thái “căng tương đối”, dù chưa rơi vào thiếu hụt mang tính hệ thống nhờ vai trò điều tiết của Ngân hàng KL99 đăng nhập" - ông Huân đánh giá.

Theo vị chuyên gia này, trong bối cảnh tín dụng đã tăng mạnh, bài toán điều hành thời gian tới không chỉ dừng ở việc bảo đảm đủ nguồn vốn cho hệ thống, mà quan trọng hơn là kiểm soát nhịp độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn và sức hấp thụ thực của nền kinh tế. Đồng thời, từng bước củng cố nền vốn trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng nhằm hạn chế nguy cơ tích tụ rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc.

Lệch pha kỳ hạn tới 5 triệu tỷ đồng gây áp lực thanh khoản

Theo TS. Phạm Xuân Hòe, hiện khoảng 80% nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng là ngắn hạn, trong khi tỷ trọng huy động trung dài hạn chỉ khoảng 20% tùy từng ngân hàng. Ở chiều ngược lại, tỷ trọng cho vay trung dài hạn khoảng 45 - 48%. Trước đây, tỷ lệ này từng tăng rất cao, đạt khoảng 53% vào năm 2012, sau đó giảm dần.

"Khi mất cân đối về kỳ hạn, "căn bệnh" thanh khoản sẽ luôn thường trực với hệ thống ngân hàng" - ông Hòe nêu rõ.

Xét về quy mô tuyệt đối, độ lệch pha kỳ hạn của hệ thống ước khoảng 5 triệu tỷ đồng. Theo tính toán của TS. Phạm Xuân Hòe, nguồn vốn kỳ hạn trên 1 năm chiếm khoảng 20% (hơn 3,2 triệu tỷ đồng), trong khi dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm 47%, tương đương khoảng 8,3 triệu tỷ đồng. Sự chênh lệch lớn này cho thấy rủi ro về kỳ hạn và rủi ro lãi suất của hệ thống ngân hàng luôn chịu sức ép rất lớn.

Trong bối cảnh đó, việc lãi suất có xu hướng nhích lên là điều tất yếu, xuất phát từ yêu cầu cân đối lại cấu trúc kỳ hạn nguồn vốn và hạn chế rủi ro thanh khoản cho hệ thống. Vị chuyên gia này đánh giá, cuộc đua lãi suất nhiều khả năng sẽ tiếp diễn vào đầu năm 2026.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80