Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngành Ngân hàng đang bước vào cuộc đua nâng chuẩn an toàn vốn, khi tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu có thể tăng lên 10,5% theo quy định mới. Áp lực ngày càng rõ nét với các ngân hàng có CAR thấp hoặc suy giảm gần đây, buộc ngân hàng phải đối mặt áp lực "kép" tăng vốn cùng tái cơ cấu danh mục Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp.
aa
Ban hành Thông tư mới về tỷ lệ an toàn vốn CAR, thêm điều kiện chia cổ tức tiền mặt Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR Trăn trở ngân hàng quốc doanh "chậm chân" trong cuộc đua tăng vốn điều lệ

Ngân hàng dưới áp lực "kép"

Thông tư 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 14) sẽ có hiệu lực từ ngày 15/9 tới đây, thay thế Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (Thông tư 41).

Trao đổi với phóng viên, ông Bùi Văn Huy - Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư, Công ty FIDT cho rằng, Thông tư mới đưa ra nhiều yêu cầu khắt khe hơn về tỷ lệ an toàn vốn (CAR), theo hướng tiệm cận chuẩn mực Basel III. Theo đó, từ năm 2030 trở đi, các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay sẽ phải duy trì tổng CAR ít nhất 10,5% (so với mức 8% hiện tại). Mức 10,5% này bao gồm cả 2,5% bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) bắt buộc và có thể cộng thêm bộ đệm chu kỳ (CCyB) từ 0 - 2,5% tùy Ngân hàng KL99 đăng nhập quy định theo từng giai đoạn kinh tế.

Cũng theo quy định mới, lộ trình áp dụng được giãn dần, mỗi năm tăng thêm 0,625% CCB để đến năm 2030, chính thức áp dụng mức CCB 2,5%, nâng CAR tối thiểu từ 8% lên 10,5%.

Củng cố năng lực tài chính và tạo dư địa tăng trưởng dài hạn

"Về góc độ đầu tư, việc tăng vốn có thể tạo ra rủi ro pha loãng cổ phiếu trong ngắn hạn, nhưng lại giúp củng cố năng lực tài chính và tạo dư địa tăng trưởng dài hạn. Ngân hàng nào chủ động tăng vốn sớm, triển khai hiệu quả và duy trì CAR vững chắc sẽ có lợi thế cạnh tranh rõ rệt, cả về năng lực cho vay lẫn khả năng ứng phó rủi ro. Do đó, nhà đầu tư nên tập trung theo dõi kế hoạch tăng vốn, thời điểm thực hiện và định hướng sử dụng vốn để đánh giá lại tiềm năng tăng giá cổ phiếu từng ngân hàng trong giai đoạn 2025 - 2030" - ông Bùi Văn Huy nhận định.

Nhìn lại toàn cảnh hệ số CAR ngành Ngân hàng, theo ông Bùi Văn Huy, tính đến cuối năm 2024, tỷ lệ CAR trung bình của hệ thống ngân hàng Việt Nam chỉ đạt khoảng 12,5%, thấp hơn đáng kể so với mặt bằng khu vực.

Đặc biệt, nhóm ngân hàng quốc doanh hiện duy trì CAR quanh mức 10% hoặc thấp hơn, trong khi yêu cầu mới theo Thông tư 14 tối thiểu 10,5%.

"Ngược lại, nhiều ngân hàng tư nhân có CAR trên 12 - 15%, nhóm ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam thậm chí vượt 20%. Điều này cho thấy áp lực tăng vốn trong các năm tới là rất lớn, đặc biệt với các ngân hàng vốn nhà nước" - ông Huy đánh giá.

Để đáp ứng yêu cầu mới, theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, về cơ bản, các ngân hàng cần tái cấu trúc toàn diện, đặc biệt là cơ cấu Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp.

"CAR là tỷ lệ giữa vốn tự có với Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp có rủi ro, do đó, để cải thiện hệ số này, ngân hàng cần tăng tử số (vốn tự có) và/hoặc giảm mẫu số (Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp có rủi ro). Các loại Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp được xếp vào nhóm có rủi ro và nhóm an toàn đã được quy định rõ. Vì vậy, việc cơ cấu lại danh mục Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp và đẩy mạnh tăng vốn là điều cần thiết" - ông Huân nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, một trong những giải pháp quan trọng là phải tăng vốn một cách mạnh mẽ. Đây là xu hướng chắc chắn sẽ tiếp tục để các ngân hàng duy trì và nâng cao hệ số CAR.

CAR sụt giảm tại nhiều ngân hàng, áp lực tăng vốn ngày càng rõ nét

Thống kê của phóng viên cho thấy, tỷ lệ CAR của các ngân hàng năm 2024 ghi nhận diễn biến phân hóa rõ nét, phản ánh áp lực trong việc cân đối giữa tăng trưởng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp rủi ro và năng lực bổ sung vốn tự có.

Theo đó, có 9/27 ngân hàng niêm yết ghi nhận sự sụt giảm hệ số CAR, trong đó giảm mạnh nhất là Saigonbank giảm 2,9 điểm phần trăm, đây cũng là mức thấp nhất trong vòng 5 năm gần đây; PGBank giảm 1,98 điểm phần trăm còn 10,01%..., cho thấy tăng trưởng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp rủi ro vượt xa tốc độ cải thiện vốn tự có. Đây là tín hiệu cần lưu ý trong bối cảnh lộ trình áp dụng chuẩn CAR mới từ Thông tư 14 đang đến gần.

Ngay cả một số ngân hàng lớn cũng không tránh khỏi xu hướng này. Cuối năm 2024, CAR của một "ông lớn" ngân hàng tư nhân giảm 1,67 điểm phần trăm trên báo cáo hợp nhất, xuống còn 15,5%. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc tổng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp có rủi ro tăng mạnh 18% (từ 821.124 tỷ đồng lên 966.508 tỷ đồng), trong khi vốn tự có chỉ tăng khoảng 6% (từ 141.024 tỷ đồng lên 149.780 tỷ đồng), qua đó, kéo hệ số CAR suy giảm. Dù vậy, đây vẫn là nhà băng đứng top đầu hệ thống về hệ số CAR.

Trường hợp của Sacombank cũng cho thấy những hạn chế trong cải thiện CAR do vẫn đang trong quá trình thực hiện đề án tái cơ cấu, khiến việc tăng vốn điều lệ phụ thuộc vào sự phê duyệt của Ngân hàng KL99 đăng nhập. Dù vốn tự có hợp nhất năm 2024 ghi nhận mức tăng ấn tượng 18,3%, đạt 62.668 tỷ đồng, nhưng CAR chỉ nhích từ 9,11% lên 10,14% và vẫn nằm trong nhóm 5 nhà băng có tỷ lệ an toàn vốn thấp nhất toàn hệ thống.

Tính trong 5 năm giai đoạn 2020 - 2024, cũng có 4 ngân hàng giảm CAR. Một số ngân hàng lớn cải thiện nhẹ dù quy mô Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp mở rộng mạnh, như: Vietcombank (tăng 2,6 điểm phần trăm), BIDV (tăng 0,42 điểm phần trăm), VietinBank (tăng 0,23 điểm phần trăm giai đoạn 2021 - 2024 vì năm 2020 không công bố), song đều thấp hơn 10%.

Cũng theo đánh giá của chuyên gia S&I Ratings, Thông tư 14 đánh dấu bước tiến quan trọng đưa ngành Ngân hàng tiến gần hơn đến Basel III, nhằm củng cố an toàn hệ thống, tính minh bạch và khả năng chống chịu rủi ro. Dù vậy, Thông tư 14 sẽ tạo áp lực tăng vốn với nhóm ngân hàng quốc doanh vốn có tỷ lệ CAR khá thấp, để đảm bảo dư địa tăng trưởng trong dài hạn.

Thẳng thắn chỉ rõ tốc độ cải thiện CAR nhóm "Big 4" chậm, theo ông Bùi Văn Huy, trong 5 năm, BIDV chỉ tăng CAR khoảng 0,42 điểm phần trăm, VietinBank cũng tăng chưa tương xứng với tốc độ mở rộng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp. Để đáp ứng chuẩn vốn mới và duy trì tăng trưởng tín dụng, nhiều ngân hàng triển khai kế hoạch tăng vốn.

Đơn cử, Vietcombank dự kiến phát hành riêng lẻ 6,5% vốn, thu về khoảng 1 tỷ USD; BIDV chào bán 123,8 triệu cổ phiếu, thu 4.803 tỷ đồng, giúp CAR lên xấp xỉ 10%; VietinBank giữ lại toàn bộ lợi nhuận để bổ sung vốn; Agribank có khả năng chuẩn bị IPO nhằm tăng vốn chủ sở hữu./.

"So kè" năng lực CAR giữa các nhóm ngân hàng

Theo số liệu do Ngân hàng KL99 đăng nhập công bố, đến cuối tháng 11/2024, khối ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay nhà nước đạt tổng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp có hơn 9,17 triệu tỷ đồng, tăng 10,16% so với cuối năm trước. Tuy nhiên, vốn điều lệ chỉ tăng 2,92%, lên mức 224.252 tỷ đồng, cho thấy năng lực bổ sung vốn vẫn hạn chế so với tốc độ mở rộng Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp, có thể ảnh hưởng đến hệ số CAR và dư địa tăng trưởng tín dụng.

Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn
Nguồn: Phóng viên tổng hợp từ Ngân hàng KL99 đăng nhập.

Cũng theo dữ liệu từ Ngân hàng KL99 đăng nhập, với các tổ chức tín dụng áp dụng Thông tư 41, vốn tự có đạt hơn 2,14 triệu tỷ đồng, tăng 15,4% so với cuối năm trước, CAR bình quân đạt 12,51%.

Trong đó, nhóm ngân hàng nhà nước ghi nhận vốn tự có đạt 754.743 tỷ đồng, tăng 15,71%, cao hơn trung bình toàn hệ thống. Dù vậy, tỷ lệ CAR chỉ đạt 10,57%, thấp nhất trong 3 nhóm, cho thấy hệ số an toàn vốn vẫn còn khá "mong manh" so với quy mô Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp khổng lồ và vai trò trụ cột về cung ứng tín dụng trong nền kinh tế.

Khối ngân hàng tư nhân đạt 1,032 triệu tỷ đồng vốn tự có, tăng 14,23%, tương ứng với CAR 12,21%, cao hơn đáng kể nhóm quốc doanh. Điều này cũng cho thấy lợi thế linh hoạt của nhóm ngân hàng tư nhân khả năng tăng vốn nhờ phát hành cổ phiếu, huy động trái phiếu...

Đáng chú ý, khối ngân hàng nước ngoài nổi bật với "lá chắn" CAR lên tới 23,27%, gần gấp đôi toàn hệ thống. Vốn tự có đạt 354.306 tỷ đồng, tăng 18,27%, mức tăng cao nhất trong 3 nhóm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80