M.Kl991.com phiên bản mới vẫn là “đầu kéo” tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dư nợ tín dụng bất động sản đạt hơn 4 triệu tỷ đồng tính đến cuối tháng 7, chiếm 23,68% tổng dư nợ toàn hệ thống và tiếp tục tăng mạnh. M.Kl991.com phiên bản mới vẫn là "đầu kéo" tín dụng, tạo lực đẩy phục hồi, nhưng cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chẽ dòng vốn.
aa

Dư nợ bất động sản vượt 4 triệu tỷ đồng

Số liệu từ Ngân hàng KL99 đăng nhập cho thấy, tính đến hết ngày 31/7, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản đạt 4,08 triệu tỷ đồng, tăng 16,95% so với cuối năm 2024 và chiếm 23,68% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Theo đánh giá của Ngân hàng KL99 đăng nhập, những năm gần đây, dư nợ tín dụng bất động sản tăng trưởng cao và tỷ trọng trong tổng dư nợ tín dụng chung có xu hướng tăng. Theo đó, tăng trưởng dư nợ tín dụng bất động sản năm 2023 là 11,81%; năm 2024 là 20,79% và 7 tháng năm 2025 là 16,95%. Đáng chú ý, vốn chủ yếu đổ vào KL99 com tặng +199k bất động sản, trong khi cho vay tiêu dùng, tự sử dụng tăng chậm lại.

M.Kl991.com phiên bản mới vẫn là “đầu kéo” tín dụng
Đồ họa: Ánh Tuyết

Cụ thể, dư nợ tín dụng hoạt động KL99 com tặng +199k bất động sản đạt 1,79 triệu tỷ đồng, tương ứng tăng 23,87%, cao hơn hẳn mức 12,4% của cho vay tiêu dùng, tự sử dụng bất động sản.

Khảo sát của phóng viên Báo Kl99kl tải ứng dụng - Đầu tư từ 20 ngân hàng cũng cho thấy, cho vay KL99 com tặng +199k bất động sản tiếp tục là “đầu kéo” tín dụng trong nửa đầu năm 2025, với tốc độ tăng dư nợ tại nhiều nhà băng cao gấp đôi, thậm chí 5 - 8 lần so với tăng trưởng cho vay khách hàng của chính ngân hàng đó. Sự lệch pha này cho thấy, tín dụng bất động sản đang nóng hơn nền tín dụng chung.

Trong nhóm ngân hàng có dư nợ tín dụng bất động sản tăng trưởng “nóng”, VIB dẫn đầu với mức tăng tới 78,4%, cao gấp gần 8 lần tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng của chính ngân hàng này (9,9%). Tiếp theo là NamABank với mức tăng 49,3% so với cuối năm 2024. Sacombank cũng gây chú ý khi dư nợ bất động sản tăng 42,8%, gấp gần 5 lần mức tăng trưởng cho vay khách hàng. Đáng chú ý, Saigonbank dù dư nợ tín dụng giảm 7,2%, nhưng dư nợ cho vay KL99 com tặng +199k bất động sản vẫn tăng tới 30,9%.

Xét về con số tuyệt đối, Techcombank và VPBank dẫn đầu cho vay KL99 com tặng +199k bất động sản tính đến cuối quý II/2025, lần lượt đạt 227.400 tỷ đồng (tăng 21,6% so với cuối năm 2024) và 192.800 tỷ đồng (tăng 3,3%).

Pháp lý khơi thông, tín dụng bất động sản có thêm dư địa

"Nhìn nhận một cách khách quan, giá vốn của Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 bất động sản cũng gia tăng, nhất là sau khi Luật Đất đai sửa đổi quy định về định giá đất theo nguyên tắc thị trường, kéo theo chi phí sử dụng đất cao hơn. Điều này lý giải vì sao đầu vào tăng, khiến giá bán nhà cũng neo ở mức cao. Bên cạnh đó, những vướng mắc về pháp lý của các dự án bất động sản và Kl99kl Giải Trí Trực Tiếp bảo đảm từng bước được tháo gỡ, ngân hàng có cơ sở để giải ngân cho các chủ đầu tư".

Ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF)

Xét về tỷ trọng, PVcomBank và Techcombank nổi bật, khi dư nợ bất động sản chiếm trên 30% tổng dư nợ, cho thấy sự “đặt cược” lớn vào địa ốc trong bối cảnh lãi suất thấp và các vướng mắc về pháp lý dần được tháo gỡ.

Khảo sát tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 bất động sản lớn cho thấy, các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 này cũng đang gia tăng vay vốn từ ngân hàng. Đơn cử, Novaland ghi nhận tổng dư nợ vay ngân hàng tăng mạnh lên 21.169 tỷ đồng, tăng 42% so với đầu năm, chủ yếu do vay dài hạn vọt 63% lên 16.537 tỷ đồng. Về lãi suất, các khoản vay áp dụng thả nổi cộng biên độ 3 - 4%, nhiều hợp đồng có mức sàn 10,2 - 11%/năm. Novaland cho biết, trong nửa đầu năm, Tập đoàn được phê duyệt tín dụng là 15.050 tỷ đồng thông qua các hợp đồng tín dụng mới từ các ngân hàng và đã giải ngân 4.640 tỷ đồng.

Trong khi đó, tại Taseco Land, tổng vốn vay ngân hàng tăng mạnh 37% so với đầu năm, lên mức 4.805,7 tỷ đồng; chi phí lãi vay là 85 tỷ đồng, tăng 29% so với cùng kỳ.

Kiểm soát dòng vốn, hạn chế đầu cơ

Đánh giá về dòng tín dụng đang chảy mạnh vào bất động sản, theo ông Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính - ngân hàng, diễn biến này một phần xuất phát từ mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% đặt ra từ đầu năm, cùng với kỳ vọng về sự phục hồi của thị trường.

Tuy vậy, vị chuyên gia này cũng nhấn mạnh, cần kiểm soát chặt chẽ rủi ro, bởi giá nhà hiện ở mức rất cao, đặc biệt tại các đô thị lớn. Ông Hiếu lưu ý, chính sách tín dụng cần được điều chỉnh theo hướng hợp lý, ưu tiên các dự án có đầy đủ pháp lý và người mua có nhu cầu ở thực; kiểm soát chặt dòng vốn chảy vào đất nền, hoạt động đầu cơ.

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng, thị trường bất động sản đang phục hồi, nhu cầu vốn cho các dự án ngày càng lớn. Tuy nhiên, khi kênh trái phiếu Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 được tái cơ cấu và nâng cao về tiêu chuẩn, các chủ đầu tư quay lại với kênh tín dụng ngân hàng.

Báo cáo từ Bộ Xây dựng cho thấy, trong 9 tháng năm 2025, giá bán căn hộ chung cư tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh duy trì ở mức cao. Tại Hà Nội, giá sơ cấp trung bình là 70 - 80 triệu đồng/m2, tăng 33% so với cùng kỳ. Tại TP. Hồ Chí Minh, giá sơ cấp trung bình khoảng 75 triệu đồng/m2, tăng 36%.

Bộ Xây dựng cũng thừa nhận, giá giao dịch bất động sản có xu hướng tăng dần theo năm, song cơ bản chưa phản ánh đúng giá trị thực của bất động sản. Đồng thời, còn hiện tượng găm hàng, nâng giá, đầu cơ, làm tăng mặt bằng giá bất động sản, gây mất cân đối cung - cầu và vượt quá khả năng chi trả của người dân.

Thực tế, sự gia tăng giao dịch và mức giá ở một số phân khúc trọng điểm, cùng các chính sách hỗ trợ về pháp lý và tín dụng, đang tạo đà cho thị trường bất động sản bước vào giai đoạn tăng trưởng. Niềm tin thị trường đang cải thiện, nhưng sự phục hồi này cũng kéo theo những tín hiệu đáng lo ngại khi đầu cơ quay lại, đất nền ở một số khu vực bị "thổi giá" và dòng vốn nóng len lỏi vào thị trường. Những thách thức về lệch pha cung - cầu, rủi ro đầu cơ và khả năng chi trả của người mua vẫn là các yếu tố cần được giám sát chặt chẽ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80