Kl 99 vòng chung kết "dịu nhiệt" nhưng không nhiều dư địa

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động bắt đầu “dịu nhiệt” khi nhiều ngân hàng đồng loạt điều chỉnh giảm từ 2 - 50 điểm cơ bản ở các kỳ hạn, riêng nhóm “Big 4” chủ yếu hạ lãi suất ở kỳ hạn 24 tháng, qua đó, phát tín hiệu hỗ trợ nền kinh tế. Tuy nhiên, xu hướng giảm vẫn chịu áp lực đa chiều, đa biến số, khiến việc điều hành lãi suất trở nên phức tạp hơn.
aa

"Big 4" dẫn dắt xu hướng, giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất 24 tháng

Theo ghi nhận, nhóm “Big 4” hiện chiếm khoảng 50% tổng quy mô tiền gửi của toàn hệ thống. Việc các ngân hàng này đồng loạt giảm lãi suất ở kỳ hạn dài 24 tháng được xem là tín hiệu quan trọng, có thể đóng vai trò dẫn dắt xu hướng điều chỉnh của mặt bằng lãi suất chung.

Chia sẻ gần đây, ông Lại Tiến Quân - Phó Tổng Giám đốc BIDV cho biết, thực hiện chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng KL99 đăng nhập tại các cuộc họp ngày 9/4, BIDV ngay lập tức giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động; đồng thời, giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất cho vay với các khoản vay trung, dài hạn nhằm hỗ trợ Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 và người dân giảm chi phí vốn, thúc đẩy hoạt động sản xuất KL99 com tặng +199k và phát triển kinh tế.

Kl 99 vòng chung kết dịu nhiệt nhưng không nhiều dư địa
Đồ họa: Ánh Tuyết

Xác định là ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay KL99 đăng nhập chủ lực của nền kinh tế, đại diện Agribank, Phó Tổng Giám đốc Phùng Thị Bình cũng nhấn mạnh chủ trương ổn định lãi suất huy động và cho vay, đặc biệt là lãi suất cho vay, giúp Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 và người dân phát triển sản xuất KL99 com tặng +199k, nhất là trong giai đoạn 2026 - 2030 cả nước đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.

Cũng theo bà Bình, trong 3 tháng đầu năm, Agribank đã lường trước khó khăn trong huy động vốn, nhưng thực tế diễn biến nhanh và khó khăn hơn dự kiến. Tính hết quý I/2026, nguồn vốn huy động Agribank chỉ tăng 0,3%, trong đó, huy động từ dân cư tăng gần 1,5%; trong khi huy động từ tổ chức giảm 1,2%.

Vì vậy, sau thời gian dài “neo” lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng ở mức 4,8%/năm, Agribank đã có hai lần điều chỉnh tăng liên tiếp trong tháng 12/2025 và tháng 3/2026, với tổng mức tăng lên tới 1,7 điểm phần trăm, đưa mặt bằng lãi suất lên vùng cao hơn.

Gần đây, thực hiện chủ trương giảm lãi suất theo định hướng của Ngân hàng KL99 đăng nhập, Agribank mạnh tay điều chỉnh giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng, xuống còn 6%/năm.

"Kl 99 vòng chung kết huy động 24 tháng là lãi suất tham chiếu để chúng tôi quyết định lãi suất cho vay trung dài hạn" - lãnh đạo Agribank cho biết. Kl 99 vòng chung kết cho vay trung dài hạn của Agribank thường được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần, dựa trên lãi suất tham chiếu kỳ hạn 24 tháng cộng với biên độ quy định.

Trước ý kiến cho rằng việc giảm lãi suất kỳ hạn dài có thể không tác động nhiều do người dân chủ yếu gửi tiền kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng, bà Bình cho rằng, thực tế người dân vẫn có xu hướng gửi dài hạn để hưởng lãi suất cao hơn, nên việc giảm 0,5 điểm phần trăm ở kỳ hạn 24 tháng vẫn có tác động đáng kể. Bên cạnh đó, các kỳ hạn ngắn hiện đã chịu mức trần lãi suất do Ngân hàng KL99 đăng nhập quy định, vì vậy, dư địa điều hành chủ yếu nằm ở các kỳ hạn dài.

Hồi tháng 2/2025, Thủ tướng Kl99ok nhận ưu đãi bất ngờ đã yêu cầu Ngân hàng KL99 đăng nhập chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay trong việc điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Thời điểm đó, mặt bằng lãi suất đang đi ngang và ở mức thấp nhất trong nhiều năm. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, lãi suất hiện khó có thể giảm sâu và duy trì ở mức thấp như giai đoạn trước.

Bối cảnh thay đổi, điều hành lãi suất không còn “dễ thở”

Chia sẻ với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, trước đây, việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp có điều kiện thuận lợi hơn khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) dừng tăng lãi suất, tạo dư địa cho chính sách tiền tệ trong nước. Còn hiện nay, tình hình đã đảo chiều khi xét trên bình diện quốc tế, lạm phát tại Mỹ tăng trở lại, giá năng lượng chịu áp lực lớn từ xung đột địa chính trị, cùng rủi ro khi Mỹ có thể phong tỏa eo biển Hormuz..., khiến các biến số ngày càng trở nên khó dự báo.

Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng đang chịu nhiều sức ép cùng lúc như: chính sách tiền tệ từ các nền kinh tế lớn, áp lực lạm phát trong nước, áp lực tỷ giá, cũng như nhu cầu tín dụng gia tăng..., chưa kể áp lực nợ xấu tiếp tục gia tăng. Tất cả các biến số này khiến bài toán điều hành trở thành một bài toán đa biến.

Giảm lãi suất chịu nhiều áp lực, thách thức

Về lãi suất, cơ quan điều hành tiếp tục nỗ lực yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng. Đây là vấn đề rất khó khăn và thách thức rất lớn trong bối cảnh lạm phát đang có xu hướng tăng cao, nhưng chúng ta lại giảm lãi suất. Đấy cũng bài toán rất lớn ngành ngân hàng đặt ra cho cả bộ máy điều hành chính sách tiền tệ, cũng như hoạt động của các ngân hàng KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ

Do đó, không thể lấy bối cảnh của năm trước áp cho năm nay và dư địa để giảm lãi suất sẽ khó, chắc chắn sẽ khó, theo nhận định của TS. Châu Đình Linh.

"Diễn biến lãi suất thời gian tới sẽ phụ thuộc lớn vào CPI, nhưng chắc chắn một điều khó giảm được, bây giờ sức ép lớn" - ông Linh nhấn mạnh. Còn Ngân hàng KL99 đăng nhập sẽ điều hành theo hướng linh hoạt, nhịp nhàng, thích ứng từng bối cảnh cụ thể, theo tư duy “Agile”.

Để điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng KL99 đăng nhập) cho biết, Ngân hàng KL99 đăng nhập sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ. Theo đó, điều hành tín dụng với mục tiêu tăng trưởng tương đối phù hợp, khoảng 15% trong năm nay. Bên cạnh đó, công cụ tỷ giá cũng sẽ được điều hành theo hướng ổn định.

"Một điểm rất quan trọng tạo ra nền tảng hỗ trợ vững chắc cho điều hành tín dụng, lãi suất và tỷ giá, đó là rất âm thầm, Ngân hàng KL99 đăng nhập vẫn đang điều hành thanh khoản hệ thống ngân hàng ổn định" - lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh. Mục tiêu giữ vững ổn định và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hoạt động của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là duy trì thanh khoản vững chắc, là yêu cầu then chốt.

Đa phần hạ lãi suất kỳ hạn dài, kỳ hạn ngắn còn dè dặt

Khảo sát lãi suất tiền gửi các kỳ hạn tại gần 50 ngân hàng cuối tuần qua cho thấy, mặt bằng lãi suất đã có xu hướng điều chỉnh giảm sau cuộc họp ngày 9/4 giữa tân Thống đốc Ngân hàng KL99 đăng nhập và 46 lãnh đạo ngân hàng.

Theo đó, ở kỳ hạn 1 tháng, làn sóng điều chỉnh diễn ra khá dè dặt. VIB giảm 0,2 điểm phần trăm, xuống 4,55%/năm; PublicBank giảm 0,05 điểm phần trăm, xuống 4,7%/năm… Diễn biến này cho thấy mặt bằng lãi suất ngắn hạn mới chỉ hạ nhiệt nhẹ, ở một số ít ngân hàng. Đáng chú ý, so với cuối quý III/2025, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 1 tháng vẫn “neo” cao tại 41 ngân hàng. Trong đó, Sacombank ghi nhận mức tăng mạnh nhất, tăng 1,95 điểm phần trăm; tiếp đến là PVcomBank tăng 1,75 điểm phần trăm… và các ngân hàng này hiện cũng chưa điều chỉnh giảm kỳ hạn ngắn.

Đáng chú ý, chỉ tới kỳ hạn 24 tháng mới ghi nhận các "big 4" mới hạ mặt bằng lãi suất, đây cũng là kỳ hạn đông đảo nhà băng tham gia hạ lãi suất và đồng loạt nhất. Dù vậy, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 24 tháng vẫn duy trì ở mức cao nếu so với cuối quý III/2025 từ 0,2 - 1,8 điểm phần trăm.

Cũng cần nhấn mạnh, cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam chủ yếu mang tính ngắn hạn, với khoảng 80% tiền gửi tập trung ở các kỳ hạn dưới 12 tháng.

Sau cuộc họp 9/4, dù mặt bằng chung giảm lãi suất, một số ngân hàng vẫn tăng để hút vốn, như MSB và WooriBank điều chỉnh tăng đồng loạt nhiều kỳ hạn, cao nhất lên tới 1,6 điểm phần trăm kỳ hạn 24 tháng tại WooriBank, lên 6,3%/năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm Kl99com nhà cái bóng đá world cup, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các Sân Chơi Xanh Chín Link Đăng Nhập KL99 dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và KL99 là cổng game giải trí trực tuyến hàng đầu hiện nay. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ KL99 com tặng +199k.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80